TiaSang
Thứ 7, Ngày 21 tháng 10 năm 2017
Diễn đàn

Đổi mới 2.0

10/04/2017 08:13 - Nguyễn Sĩ Dũng

Với sự hội nhập ngày càng sâu rộng vào thế giới hiện đại, đất nước ta đang thật sự bước vào một giai đoạn phát triển mới. Đây là giai đoạn chúng ta vừa phải hợp tác, vừa phải cạnh tranh với các nước khác trên thế giới. Hợp tác đòi hỏi phải có năng lực, mà cạnh tranh lại càng đòi hỏi phải có năng lực hơn. Xây dựng một nền quản trị quốc gia hiện đại và hiệu quả chính là nhiệm vụ quan trọng nhất để nâng cao năng lực của đất nước. Và đây cũng chính là nội dung trọng tâm mà những cải cách trong giai đoạn hiện nay phải hướng tới. Tia Sáng chia sẻ ý kiến cho rằng những cải cách như vậy nên được gọi là Đổi Mới 2.0. Và kể từ số này, chúng tôi sẽ dành chuyên đề (đăng tải lần lượt trên nhiều số báo) “Kiến tạo nền quản trị quốc gia hiện đại” trên chuyên mục “Diễn đàn” để đăng tải các bài viết tập trung vào những chủ đề: Nhất thể hóa; Vận hành các quyền lập pháp và hành pháp; Xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp; Xây dựng hệ thống chính quyền địa phương tự quản; Xây dựng nền tư pháp độc lập và hiệu năng; Xây dựng xã hội dân sự năng động và phát triển.

Sau đổi mới “lần 1”, Việt Nam từ nước thiếu ăn đã trở thành nhà xuất khẩu nông sản và thủy sản. 

Thật to lớn là những thành tựu của đất nước sau 30 năm đổi mới! Từ một nước thiếu ăn, chúng ta đã trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới. Từ một nước nghèo đói, chúng ta đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình với tỷ lệ người nghèo theo chuẩn quốc tế năm 2014 chỉ còn 8,4%. Từ một nước kết nối khó khăn, chúng ta đã trở thành một trong những quốc gia có tỷ lệ người dân tiếp cận internet thuộc hạng tăng nhanh trên thế giới, đạt 52% năm 2015. Kể không hết là những thành tựu của 30 năm đổi mới!

Tuy nhiên, thách thức đang đặt ra sau 30 năm đổi mới lại không hề nhỏ. Thách thức đầu tiên là cạnh tranh quốc tế. Nếu tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ/GDP năm 1985 đạt 18,2%, thì năm 2000 là 96,5% và năm 2013 là 153,9%. Điều này có nghĩa là độ mở của nền kinh tế của chúng ta rất lớn; là phần lớn sự giàu có của chúng ta đang đến từ ngoài biên giới quốc gia; là cạnh tranh đang gõ cửa từng nhà, từng thiết chế cấu thành nên nền quản trị quốc gia của chúng ta.

Cạnh tranh thì không chỉ là giữa những người dân Việt Nam với những người dân của các nước khác, giữa những doanh nghiệp Việt Nam với những doanh nghiệp của các nước khác, mà quan trọng nhất là giữa nền quản trị quốc gia của Việt Nam với nền quản trị quốc gia của các nước khác.

Áp lực phải cải cách nền quản trị quốc gia đến không chỉ từ cạnh tranh quốc tế, mà còn từ đòi hỏi của đời sống nội tại. Trong 30 năm qua, những bước phát triển vượt bậc của đất nước đều gắn liền với những cải cách rất quan trọng liên quan đến mô thức quản trị quốc gia. Tự do hóa nông nghiệp chính thức bắt đầu từ Khoán 10 (năm1988) đã biến nước ta từ nước thiếu ăn trở thành nhà xuất khẩu gạo (và nhiều nông sản khác) đứng hàng đầu thế giới. Việc mở rộng quyền tự do kinh doanh và từ bỏ độc quyền ngoại thương của Nhà nước, đặc biệt là từ khi có Luật Công ty (năm1990), Luật Doanh nghiệp tư nhân (năm1990), đã giúp các lĩnh vực khác của nền kinh tế phát triển vượt bậc, công cuộc xóa đói, giảm nghèo đạt thành tựu ít quốc gia đang phát triển nào sánh kịp. Việc gia nhập WTO (năm 2007) và hội nhập với thế giới cũng đã tạo ra bước phát triển mới trên mọi lĩnh vực, giúp nước ta thoát khỏi địa vị của nước có thu nhập thấp trở thành quốc gia có thu nhập trung bình. Tuy nhiên, những khó khăn và suy giảm trong mấy năm vừa qua cho thấy động lực mà những cải cách trước đây tạo ra đã bắt đầu suy cạn. Đây là lúc chúng ta cần có nguồn động lực mới để tiếp tục phát triển lâu bền hơn và với chất lượng cao hơn. Nguồn động lực đó sẽ đến từ đâu nếu không phải từ những cải cách thể chế, mà quan trọng nhất là cải cách nền quản trị quốc gia.

Áp lực phải cải cách nền quản trị quốc gia còn đến từ sự bùng nổ của cách mạng thông tin và truyền thông. Chỉ tính riêng internet, hiện nay, nước ta có đến gần 50 triệu người truy cập và sử dụng, và con số này vẫn đang tăng lên hết sức nhanh chóng hằng ngày. Điều đặc biệt đáng lưu ý ở đây là tuyệt đại đa số những người sử dụng internet đều thuộc về thế hệ trẻ, thế hệ đang và sẽ đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển cũng như vận mệnh của đất nước. Tiếp cận với internet nghĩa là có cả thế giới trên 10 đầu ngón tay. Cơ hội của hàng chục triệu người dân mở rộng kiến thức, khám phá sự thật và so sánh những chiêm nghiệm thực tế là động lực to lớn để phát triển, nhưng đồng thời cũng là thách thức không kém phần to lớn, nếu chúng ta không có được những cải cách tương ứng và kịp thời.

Nếu tự do hóa là linh hồn của những cải cách được tiến hành từ khi đổi mới (năm 1986) đến nay, thì chuyên nghiệp hóa phải là linh hồn của những cải cách từ nay trở đi. Đây chính là ĐỔI MỚI 2.0.

Cải cách theo hướng tự do hóa là không dễ, khi di sản chúng ta thừa kế là một nền quản trị tập trung, quan liêu, bao cấp. Tuy nhiên, cải cách theo hướng chuyên nghiệp hóa sẽ khó khăn hơn rất nhiều. Tự do hóa thì đơn giản là như thế này: trước đây không cho phép, thì bây giờ cho phép; trước đây cho phép ít hơn thì bây giờ cho phép nhiều hơn. Còn chuyên nghiệp hóa thì phải có hiểu biết, có kỹ năng mới có thể làm được. Tự do hóa chỉ tạo ra khuyến khích. Chuyên nghiệp hóa mới tạo ra đẳng cấp. Và đây chính là điều kiện tiên quyết giúp chúng ta vượt qua bẫy thu nhập trung bình, rủi ro mà nhiều người cho rằng chúng ta sẽ khó lòng tránh khỏi.

Chuyên nghiệp hóa bắt đầu từ việc phân công lao động một cách hợp lý giữa các thiết chế cấu thành nên thể chế của chúng ta. Quan trọng nhất là khắc phục sự trùng lặp, sự chồng chéo giữa Đảng với Nhà nước; giữa Đảng, Nhà nước với các tổ chức xã hội; giữa trung ương với địa phương.

Một trong những cải cách không thể trì hoãn thêm được nữa là việc nhất thể hóa giữa Đảng với Nhà nước. Cải cách này sẽ tạo ra sự đột phá trong việc hiện đại hóa và nâng cao chất lượng của nền quản trị quốc gia. Nó cũng làm cho quá trình hoạch định chính sách trở nên ngắn gọn, mạch lạc, chế độ trách nhiệm được xác lập rõ ràng. Đồng thời, nó còn cắt giảm đáng kể nguồn nhân lực có thể đang bị phân bổ trùng lặp.

Ngoài ra, cải cách thể chế còn cần hướng tới việc tuyển chọn cho được những người tài. Một cơ chế cạnh tranh lành mạnh và minh bạch phải là linh hồn của những cố gắng cải cách ở đây.

Cải cách nền quản trị quốc gia là một công việc to lớn và khó khăn. Công việc này đòi hỏi không chỉ những đổi mới mang tính đột phá về tư duy, mà còn cả một sự thống nhất ý chí, một sự đồng thuận rất cao trước hết là trong Đảng và sau đó là trong xã hội. Mà như vậy, thì chúng ta cần phải có nhiều thời gian hơn để nghiên cứu, trao đổi và thống nhất ý kiến với nhau. Tạo ra đồng thuận là không thể thiếu để có thể tiến hành cải cách thành công.

 

Tags:

ĐỌC NHIỀU NHẤT