TiaSang
Thứ 6, Ngày 20 tháng 9 năm 2019
Văn hóa

Rossini và bước thăng trầm của một di sản opera

25/08/2019 08:30 - Richard Osborne

Sống trọn vẹn trong thời kỳ hoàng kim của nghệ thuật bel canto (hát đẹp), nhà soạn nhạc Ý Gioachino Rossini đã để lại một di sản opera với nhiều kiệt tác cho hậu thế. Do đó, bằng nhiều cách, ngay cả khi đã qua đời thì ông vẫn “can dự” vào đời sống opera thế giới và làm nên tên tuổi nhiều nghệ sỹ lớn thế kỷ 20.

Nhà soạn nhạc Ý Gioachino Rossini

Bốn ngàn người đã chen chúc vào Sainte-Trinité, nhà thờ mới nhất và lớn nhất của Paris, để dự lễ tang Rossini vào tháng 11/1868; và cũng chừng ấy người đã nối đuôi nhau dọc tuyến đường đến nơi an nghỉ tạm thời của ông tại nghĩa trang Père-Lachaise. Cả châu Âu thương tiếc ông. Tại London, tờ The Times tuyên bố: “Đây là sự ra đi của một trong những thiên tài đáng chú ý nhất và một trong những tinh thần tốt lành nhất thế kỷ 19.” 

Những vai diễn để đời cho các giọng ca 

Rossini sinh ra trong thời kỳ hoàng kim của nghệ thuật bel canto (hát đẹp). Giống như nhiều thời kỳ nở rộ văn hóa lớn, thời đại bel canto của Ý, vốn do Rossini tạo ra và Donizetti cùng Bellini duy trì, làm phong phú thêm, tồn tại tương đối ngắn. Di sản đồ sộ 39 vở opera của ông đã bị rút lại thành một số ít tác phẩm: Người thợ cạo thành Siviglia (vai Rosina bị chuyển dịch thành một màn phô diễn cho các giọng soprano leggiero - nữ cao nhẹ), Guillaume Tell (vang rền, bị rút gọn và chủ yếu được hát bằng tiếng Ý) và Semiramide (một phương tiện không thường xuyên dành cho các giọng soprano ngôi sao như Patti hay Melba). Những trích đoạn từ các vở opera đó và Stabat mater, tác phẩm tôn giáo viết cho giọng hát và dàn nhạc, thi thoảng được thu âm trong những năm đầu của công nghệ đĩa than. Ngày nay, rất ít bản thu trong số đó nghe còn tốt, dù với các bản thu vai bá tước Almaviva của Fernando de Lucia, lối hát bel canto đạt tới hình thức biểu diễn thuần khiết nhất.

Một điềm báo sớm cho sự trở lại của loại giọng mezzo-soprano, hay contralto với phần mở rộng soprano trên sân khấu opera, mà Rossini đã dành cho nhiều vai chính trong các vở diễn của mình, là sự xuất hiện của ca sĩ gốc Tây Ban Nha Conchita Supervía. Trong mùa diễn 1934- 35, từ “bệ phóng” của nhạc trưởng Sir Thomas Beecham và sự cộng tác của Francis Toye, tác giả cuốn sách bán chạy nhất song cực kỳ không đáng tin cậy Rossini: A Study in Tragi-Comedy (Rossini: Một nghiên cứu về bi hài kịch, London, 1934), Cenerentola của Supervía đã đủ mê hoặc các nhà bảo trợ.

Trong những năm giữa hai thế chiến, mối quan tâm đến cuộc đời và tác phẩm của Rossini trong giới học giả bắt đầu tăng tốc. Từ năm 1927 đến 1929, nhà soạn nhạc kiêm nhà âm nhạc học Giuseppe Radiciotti đã xuất bản (phần lớn bằng chi phí của mình) một ấn phẩm đặc biệt gồm ba tập “cuộc đời, tài liệu và tác phẩm”. Gần như cùng lúc đó, các học giả trường phái cũ Vittorio Gui và Tullio Serafin, những người không chỉ chỉ huy và giảng dạy mà còn soạn nhạc, biên tập và nghiên cứu, cũng đang có những bước tiến quan trọng. Tuy nhiên, việc Ý tham gia thế chiến thứ hai đã làm hỏng nhiều kế hoạch dành cho lễ kỷ niệm tròn 150 năm ngày sinh Rossini, dù phiên bản trình diễn mới của Người thợ cạo đã ra mắt.

May mắn là khi khói lửa chiến tranh tan biến, một hiện tượng mới xuất hiện với Maria Callas 24 tuổi, người có màn diễn xuất Norma đầy cá tính và kỹ thuật của Bellini ở Florence năm 1948, cứ như thể người tạo nên vai diễn này, Giuditta Pasta 1, vừa tái sinh. Rossini chắc hẳn đã phải chờ đợi khoảnh khắc đỉnh cao tương tự với các vai soprano của mình. Rút cục nó đã diễn ra khi Callas vào vai chính vở Armida tại Maggio Musicale năm 1952 ở Florence. Liên hoan này – bị trì hoãn một thập kỷ kể từ năm 1942 – đã phục sinh ba vở opera hài bị lãng quên La scala di seta, La pietra del paragoneLe Comte Ory cùng ba vở opera nghiêm túc Tancredi, ArmidaGuillaume Tell của Rossini. Những dấu vết của Armida tại Maggio Musicale vẫn còn tồn tại trong bản thu âm trực tiếp tệ hại về kỹ thuật của hãng Warner Classics không thể so với Armida cũng thu trực tiếp từ buổi recital của Callas năm 1954, nơi cô hát aria ‘D’amore al dolce impero’ tuyệt vời trích từ màn 2, và được phát trực tiếp trên đài RAI. 

Một bản thu âm nổi tiếng "Người thợ cạo thành Siviglia"

Trước đó, Callas đã gây kinh ngạc với lối diễn xuất vai Fiorilla lăng loàn trong vở Il turco in Italia (Người Thổ ở Ý) tại Rome năm 1950 và hồi sinh tác phẩm sau nhiều năm bị lãng quên, dù kịch bản này không hoàn chỉnh, thiếu aria cuối cùng và quan trọng nhất của Fiorilla, và vẫn thiếu như vậy khi cô thu âm vai này cho cho EMI vào 4 năm sau. “Đầy kích thích, mạnh mẽ và gây mê mẩn” là lởi nhận xét của tờ Opera. Callas cùng với ê kíp diễn viên đó và nhạc trưởng Galliera thay thế vị trí của Giulini đã có một bản thu âm Người thợ cạo cho EMI năm 1957 mà sau đó nhanh chóng trở thành bản thu tốt nhất (và chắc chắn là đặc sắc nhất) của vở này. 

Tuy nhiên, với các giọng ca khác như bass coloratura (nam  trầm màu sắc) hay giọng tenor opera seria thì Rossini không may mắn như thế: tìm nghệ sỹ bass coloratura hát Rossini gần như là điều không thể vào những năm 1950, dù được Rossini đã dành nhiều đất từ các nhân vật chính hài hước trong L’inganno feliceLa pietra del paragone tới Mosè in Egitto; còn giọng tenor opera seria thực sự gần như tuyệt chủng. Vấn đề này đã bắt đầu nảy sinh trong giai đoạn ông làm việc cho Teatro di San Carlo ở Naples (1815-22) và ông viết các vai cho giọng ca gần như bariton Andrea Nozzari (người sáng tạo các vai như Otello và Pirro trong Ermione) và giọng cao màu sắc Giovanni David (người vào vai các nhân vật dễ kích động như Rodrigo và Oreste). Sau này, nhiều giọng opera seria người Naples không lên sân khấu cho tới hơn 150 năm sau khi xuất hiện các ca sỹ như Chris Merritt, Rockwell Blake, Bruce Ford và William Matteuzzi. 

Sự xuất hiện của một số giọng mezzo coloratura chất lượng cao mà đứng đầu là Marilyn Horne đã lần lượt giúp sức các giọng tenor kể trên. Trong một số năm, Horne đã tạo ra mối quan hệ hợp tác đáng nhớ với giọng soprano Katia Ricciarelli, không chỉ trong vở Tancredi, một chuyện tình điền viên kịch tính và tinh tế.

Hứng chịu ảnh hưởng của chiến tranh

Bằng nhiều cách, chiến tranh đã ảnh hưởng đến Rossini: bom đạn đã phá hủy nhiều kho lưu trữ bản nhạc in thuộc về Ricordi, nhà xuất bản âm nhạc chính của Ý. Do đó, các nhà hát khó tìm ra được các ấn bản trình diễn đáng tin cậy. Nhà hát Glyndebourne may mắn có được Vittorio Gui làm giám đốc âm nhạc khi dàn dựng và thu âm La Cenerentola vào năm 1952, sau đó là một Le Comte Ory đáng nhớ. Tuy nhiên, khi Liên hoan Wexford quyết định phục dựng La gazza ladra rất có khả năng phục dựng vào năm 1959, các phân phổ duy nhất mà Ricordi có thể cung cấp là từ một phiên bản được giám đốc Nhạc viện Rossini ở Pesaro thời đó chỉnh sửa và phối cho dàn nhạc lại một cách kỳ cục. Thật đáng ngạc nhiên, vở opera đó đã đại thắng, đặc biệt là nhờ cô hầu gái Pippo ngây thơ vô tội mà Janet Baker thủ vai.

Tương tự, ấn bản phục dựng Semiramide tại La Scala, Milan năm 1962 dẫn đến việc Richard Bonynge chỉ huy cùng với Joan Sutherland và Marilyn Horne thu âm vở diễn cho Decca vào năm 1965. Các “sáng kiến” kiểu đó tiếp tục nảy sinh trong suốt những thập niên 1970 và 1980, với việc Claudio Scimone thực hiện một loạt các bản thu âm quan trọng mà đến nay đã bị quên lãng như Maometto Secondo, ErmioneZelmira.

Lần gắng sức cuối cùng của những tháng ngày tồi tệ xưa cũ xảy ra vào năm 1975 với bản thu âm EMI có nhan đề tiếng Anh The Siege of Corinth đã che giấu sự thật rằng đây là bản dịch tiếng Ý được biên tập một cách tệ hại từ một bản chỉnh sửa để dàn dựng tại Pháp của vở opera nguyên bản Maometto Secondo từng biểu diễn ở Naples. 

Thành công bấp bênh và tranh cãi

Vở "Il turco in Italia" (Người Thổ ở Ý) trên sân khấu La Scala

Năm 1968, người ta làm lễ kỷ niệm tròn thế kỷ của Rossini, đi đầu là với cuốn tiểu sử Rossini: A Biography (Oxford, 1968) và một bản thu âm đẹp hiếm thấy của Montserrat Caballé “Rossini Rarities” cho RCA, một hợp tuyển những aria được nghiên cứu kỹ lưỡng trích từ các vở Tancredi, Otello, Armida, Le siège de Corinthe Stabat mater. Ít ai biết rằng đằng sau đó là nỗi sợ của RCA vì vô khối nguyên nhân: chuyển soạn nhạc và thuê các bè dàn nhạc có thể phải chịu một cái giá cắt cổ trong khi doanh thu có thể sẽ thảm hại. Kế hoạch thu âm chỉ được xúc tiến bằng sự nhạy cảm của Caballé, giọng ca ở tuổi 34 chuẩn bị đến đỉnh cao sự nghiệp. Sau “Rossini Rarities”, bà sẽ tiếp tục có những đóng góp đặc biệt hơn nữa cho danh mục đĩa hát Rossini, đáng chú ý là bản thu âm HMV năm 1972 vẫn chưa bị vượt qua của Guillaume Tell và bản thu âm âm Philips năm 1975 của Elisabetta, regina d’Inghilterra.

Di sản lớn nhất của lễ kỷ niệm tròn thế kỷ là hoàn thành ấn bản gồm toàn bộ tác phẩm âm nhạc của Rossini. Điều khó nhất là sự tồn tại của phần lớn các bản thảo viết tay (36 bản thảo trong số 39 vở opera Rossini đã viết), nó gây ra tranh cãi trong giới chuyên môn mà tiêu biểu là cuộc cãi vã dữ dội và công khai giữa Casa Ricordi (nhà xuất bản ưa thích của Rossini từ năm 1814) và một nhạc trưởng trẻ người Ý, Alberto Zedda. Zedda từng nghiên cứu triết học tại trường đại học trước khi chuyển sang theo học Nhạc viện Milan nơi giáo viên dạy organ của anh chính là Alceo Galliera đa tài. Khi Galliera thu âm Người thợ cạo với Callas và Tito Gobbi ở London vào năm 1957, ông biết những phân phổ nào nên sử dụng và những phân phổ nào cần tránh nhưng Zedda trẻ tuổi thì không được như vậy. Đảm nhiệm việc dàn dựng opera tại Milan, anh thấy mình phải đối mặt với những lời phàn nàn từ dàn nhạc rằng các phân phổ của Ricordi có nhiều sai sót và bị phân bổ nhầm (các phân phổ piccolo được hoán chỗ oboe và nhiều nhầm lẫn tương tự) khiến các nghệ sỹ không thể chơi theo được.

Hết sức lúng túng, Zedda quyết định tham khảo bản thảo viết tay ở Bologna. Đây là việc mạo hiểm bởi như Philip Gossett đã nói, bản thảo viết tay là cội nguồn của toàn bộ sự thật và cũng là gốc rễ của mọi sự không chắc chắn. Ricordi phản ứng, đòi bắt phạt vì tội chủ ý phá hoại tài sản của họ. Không chịu khuất phục, Zedda đã thành công trong việc phản tố Ricordi vì cung cấp tài liệu kém chất lượng. Cuối cùng chính Ricordi đã phát hành ấn bản phê bình Người thợ cạo mới của Zedda – ấn bản phê bình đầu tiên của một vở opera Ý – vào năm 1969. Hai năm sau, Claudio Abbado thu âm ấn bản này gần như đồng thời với việc thu âm ấn bản La Cenerentola mới của Zedda.

Việc các nhà xuất bản nhảy vào cuộc chơi đã làm thay đổi di sản của Rossini, ví dụ nhà xuất bản Oxford với New Grove đã đặt hàng một tập Rossini trong sê-ri Master Musicians (Các nghệ sỹ bậc thầy) khiến tôi tìm tòi hàng loạt vở opera chưa từng được dàn dựng và cũng không được tái bản từ lúc Rossini sinh thời. Miệt mài với một tổng phổ thanh nhạc năm 1857 của vở Ermione trong Thư viện Anh, tôi có ấn tượng rằng kiệt tác bắt nguồn từ Racine này dù ‘thất bại’ ở Naples nhưng lại là một tác phẩm mà Rossini có thể tự hào. Khi tập Master musicians rốt cuộc cũng ra mắt vào năm 1986, người hâm mộ đã phải ngỡ ngàng về những gì Rossini để lại và ngay lập tức Ermione được dàn dựng tại Liên hoan Opera Rossini năm 1987 ở Pesaro. Tự thân vở opera tỏa sáng rực rỡ với sự đóng góp đặc biệt của Marilyn Horne, Chris Merritt, Rockwell Blake và những người khác.

Phát hiện lại có lẽ xếp hạng cao nhất trong danh sách những phát hiện kể từ khi Rossini qua đời năm 1868 là phát hiện Il viaggio a Reims (Hành trình đến Reims), một tác phẩm mà Rossini sáng tác nhân lễ đăng quang của vua Pháp Charles X năm 1825. Đây là may mắn của Philip Gossett khi được người quản lý thư viện Rome trao cho một chồng bản thảo viết tay. Với chữ ký của Rossini, chúng được đánh dấu “Một số tiểu phẩm từ Cantata Il Viaggio a Reims”. Trên thực tế, đó là toàn bộ tác phẩm, ít hơn số trang mà Rossini về sau đã sử dụng lại cho vở opera Le Comte Ory của mình. Việc phục dựng (và thu âm) tác phẩm dưới sự chỉ huy của Claudio Abbado tại Liên hoan Pesaro năm 1984 vẫn là một sự kiện trọng đại trong biên niên sử nghiên cứu và biểu diễn Rossini.

Giờ đây, toàn bộ 39 vở opera Rossini đều sẵn có ở dạng này hay dạng khác, trong đó có nhiều vở gắn liền với các tên tuổi nổi tiếng như Otello với Jose Carreras và Frederica von Stade, Mosè in Egitto với Ruggero Raimondi. Patric Schmid. Hãng thu âm Naxos cũng có bản thu âm cực kỳ sống động Người thợ cạo ở Budapest năm 1993.

***

Sau những quãng thời gian thử thách, giờ đây di sản của Rossini không chỉ là các bản thu âm mà chính còn nằm ở chỗ, ông đã truyền cảm hứng cho nhiều nghê sỹ khác, ví dụ La boutique fantasque của Respighi, Soirées và Matinées của Britten hay kinh ngạc hơn là nhóm kèn đồng lâu đời nhất thế giới Black Dyke Plays Rossini’ với bản thu ‘Black Dyke Plays Rossini’ do Chandos ấn hành lần đầu vào năm 1983. 

Ngọc Anh lược dịch

Nguồn: https://www.gramophone.co.uk/feature/rossini-the-great-operatic-genius
----
* Richard Ostern là nhà nghiên cứu về Rossini; cuốn “Những cuộc trò truyện với Rossini” nhiều tiết lộ của Ferdinand Hiller do ông dịch được Pallas Athene xuất bản vào tháng 10.

Tags: