TiaSang
Thứ 5, Ngày 23 tháng 5 năm 2019
Văn hóa

Thời kỳ Baroque

01/07/2016 09:58 - Ngọc Anh

Trong lịch sử âm nhạc, thời kỳ Baroque thường được tính từ năm 1600 đến năm 1750. Mốc thời gian chỉ là tương đối vì các vũ khúc Phục Hưng của Praetorius được viết vào năm 1612. Trong bối cảnh các nền quân chủ ở châu Âu ganh đua quyết liệt, nhiều quân vương tuyển dụng các nhà soạn nhạc nhưng chỉ đặt họ vào vị thế ngang với kẻ hầu người hạ và có bổn phận phải viết nhạc mỗi khi triều đình cần. Tuy nhiên các nhà soạn nhạc lớn nhất của thời kỳ Baroque đã phá vỡ nền tảng âm nhạc cũ và tạo ra một phong cách âm nhạc hoàn toàn mới. Có hai xu hướng chính góp phần xác định âm nhạc thời kỳ Baroque: một là sự quan tâm nhiều hơn đến giọng hát solo; hai là sự nâng cao vị thế của các nhạc cụ và thể loại khí nhạc


Nhóm Florentine Camerata thảo luận, hướng dẫn các xu hướng trong nghệ thuật.

Các thể loại thanh nhạc mới: opera, cantata, oratorio

Vào cuối thế kỷ 16 khi nhạc phức điệu Phục Hưng còn thịnh hành thì một sự phát triển mới tại Ý đã bắt đầu có những phát kiến mới trong âm thanh và cấu trúc của âm nhạc. Nhiều nhạc sĩ Ý không thích phong cách phức điệu của những Người Hà Lan thời kỳ trước. Các tác phẩm có ca từ dễ hiểu và một sự tác động qua lại của các giọng hát và nhạc cụ khác nhau. Thành viên của “Camerata tại Florence”1 tìm cách tạo ra một hình thức âm nhạc sân khấu có năng lực biểu đạt tương gần với bi kịch cổ Hy Lạp. Họ xem thường thể loại madrigal phức điệu nên tạo ra một thể loại mới là opera2 trong đó có sự kết hợp của âm nhạc, diễn xuất, cảnh trí, phục trang và đạo cụ.

Vở opera sớm nhất được lưu giữ trọn vẹn đến ngày nay là L’Euridice của Jacopo Peri (1561-1633), thành viên “Camerata tại Florence”.  L’Euridice kể về huyền thoại Orpheus và Eurydice, trong đó đoạn cuối được sửa đổi thành một kết thúc có hậu: Orpheus cứu được Eurydice thoát khỏi địa ngục. Các vở opera trong thời kỳ sơ khai chú trọng ca từ và coi nhẹ phần nhạc đệm. Nội tâm của nhân vật trong các vở opera tiến triển thành aria. Các aria trong một vở opera được tách bạch bằng đoạn recitative (hát nói).

Từ Florence, nghệ thuật opera lan tỏa ra các thành phố khác như Rome và Venice. Tại Venice, lần đầu tiên opera được công diễn có bán vé để mọi tầng lớp có thể vào xem. Năm 1637, Venice khai trương Teatro San Cassiano, nhà hát công cộng đầu tiên trên thế giới. Opera không còn là trò giải trí dành riêng cho giới quý tộc mà trở nên phổ cập với số lượng các vở tăng vọt. Tại Venice cũng xuất hiện một trong số những nhà cải cách opera vĩ đại trong lịch sử âm nhạc: Claudio Monteverdi (1567-1643) – cây cầu nối giữa hai thời kỳ Phục Hưng và Baroque. Nếu như Jacopo Peri chỉ là một nhạc sĩ-ca sĩ thì Monterverdi là một nhà soạn nhạc chuyên nghiệp. Ông là tác giả của L’Orfeo, vở opera sớm nhất mà ngày nay vẫn thường xuyên được biểu diễn. Dù lấy cảm hứng từ cùng một câu chuyện trong thần thoại Hy Lạp nhưng so với L’Euridice của Peri, L’Orfeo của Monterverdi có những thay đổi mang tính lịch sử. Thay vì sử dụng các đàn lute, Monterverdi đã mở rộng biên chế dàn nhạc bằng việc dùng các đàn dây, harpsichord, organ, trumpet, recorder... khiến phần nhạc của opera trở nên giàu màu sắc và có tính tương phản rõ nét. Monterverdi cũng mở đầu opera bằng một đoạn nhạc ngắn, tiền thân của overture3 sau này. Ông cũng tạo cho những nhân vật sự khác biệt bằng những nét nhạc đặc thù. Recitative trong vở opera này không chỉ truyền tải nội dung ca từ mà còn thể hiện ý nghĩa của ca từ, khắc họa diễn biến nội tâm sâu sắc của nhân vật. 

Đến cuối thế kỉ 17 đầu thế kỉ 18, trung tâm opera Ý chuyển từ Venice sang Naples và nhà soạn nhạc tiêu biểu nhất giai đoạn này là  Alessandro Scarlatti  (1660-1725), người đã phát triển hình thức aria da capo4 và định hình cho overture kiểu Ý theo hình thức nhanh-chậm-nhanh, tiền đề cho sự ra đời của thể loại giao hưởng sau này. Tại Pháp, Đức và Anh cũng xuất hiện các tác giả opera tiêu biểu như: Jean-Baptiste Lully (1632-1687), Jean Philippe Rameau  (1683-1764), Heinrich Schütz  (1582-1672), Reinhard Keiser  (1674-1739), Georg Philipp Telemann (1681-1767), Henry Purcell (1659-1695), George Frideric Handel (1685-1759).

Xuất hiện gần như cùng thời điểm với thể loại opera là các thể loại cantata5 và  oratorio6 (thanh xướng kịch). Cấu trúc của ba thể loại này có nhiều nét tương đồng, cũng sử dụng aria, hát nói, dàn nhạc... So với cantata, khuôn khổ của oratorio lớn hơn, tính kịch và chủ đề được phát triển rộng hơn. So với opera, ngoài nội dung tôn giáo, oratorio có lời ca mang tính suy tư và tường thuật hơn và đặc biệt là có sự nhấn mạnh vào các hợp xướng. Oratorio thường dùng để miêu tả một câu chuyện kịch nhưng khác với một vở opera là nó không có các hành động kịch, không dùng phục trang biểu diễn và trang trí sân khấu.

Sự phát triển của khí nhạc

Khí nhạc trở nên ngày càng nổi bật trong thế kỉ 17, thường ở hình thức một tác phẩm đối âm liên tục mà không có sự phân chia rành mạch thành các đoạn hay chương nhạc; nó mang những cái tên như ricercare, fantasia và  fancy7. Phong cách sáng tác thứ hai là tạo nên các đoạn tương phản, thường ở các kết cấu vừa cùng chủ điệu vừa đối âm; phong cách này được biết đến như là canzona hoặc sonata8. Nhiều tác phẩm khí nhạc được dựa trên một giai điệu hay bè trầm đã có sẵn; chúng gồm chủ đề và các biến tấu, passacaglia, chaconne và  chorale prelude9. Các tác phẩm theo nhịp vũ khúc10 thường được hợp nhóm thành các tổ khúc (suite). Cuối cùng, các nhà soạn nhạc phát triển các tác phẩm theo các phong cách ứng tác viết cho các đàn phím; các tác phẩm này gọi là  prelude, toccata và  fantasia11.

Một cải cách quan trọng khác trong thế kỉ 17 đã biến đổi phong cách lỏng lẻo của âm nhạc cuối thời Phục Hưng thành một phong cách được đặc trưng bởi nhiều yếu tố tương phản. Phong cách này được biết đến với những cái tên khác nhau như concertato, concertate và  concerto, vốn cùng xuất phát từ concertare (tiếng Latinh nghĩa là “sát cánh chiến đấu”). Sự tương phản xảy ra ở nhiều mức độ âm nhạc, chẳng hạn như tương phản nhạc cụ hay tương phản mật độ âm thanh (một nhạc cụ độc tấu đối đáp với một nhóm nhạc cụ), tương phản tốc độ và tương phản mức độ âm lượng. Các đặc tính tương phản này được tạo ra nhằm dựng lên một phong cách âm nhạc năng nổ, sôi nổi được áp dụng với âm nhạc viết cho mọi nhạc cụ cũng như giọng hát và được dùng trong mọi hình thức và thể loại.

Đến cuối thế kỉ 17, hệ thống các liên hệ về mặt hòa âm gọi là “điệu thức” bắt đầu thống trị âm nhạc. Đến đầu thế kỉ 18, các nhà soạn đã làm chủ được những quy tắc bắt buộc phức tạp về điệu thức, tiêu biểu như Johann Sebastian Bach (1685-1750) và  George Frideric Handel (1685-1759), hai nhà soạn nhạc lớn người Đức cuối thời Baroque.

Ngọc Anh tổng hợp

1.Florentine Camerata: nhóm các nhà nhân văn, nhạc sĩ, thi sĩ, trí thức tụ tập dưới sự bảo trợ của bá tước Giovani de Bardi để thảo luận và hướng dẫn các xu hướng trong nghệ thuật, đặc biệt là âm nhạc và kịch nghệ. Trong số các thành viên của “Florentine Camerata” có nhạc sĩ Vincenzo Galilei, cha của nhà thiên văn học nổi tiếng Galileo Galilei.
2. Opera: tiếng Latinh là số nhiều của từ opus (tác phẩm). Một vở opera gồm có phần nhạc và phần lời (libretto).
3. Overture: khúc mở màn
4. Aria da capo: hình thức aria ba đoạn ABA’ trong đó phần A được nối tiếp bằng phần B mang tính tương phản và chủ yếu viết ở giọng thứ rồi được quay trở lại phần đầu.
5. Cantata: xuất phát từ catare trong tiếng Ý nghĩa là “hát”. Vào thế kỉ 16 khi mọi thể loại âm nhạc nghiêm túc đều là thanh nhạc, thuật ngữ cantata không có lý do gì để tồn tại. Với sự gia tăng của khí nhạc trong thế kỉ 17 các cantata bắt đầu tồn tại dưới tên gọi đó ngay khi nghệ thuật khí nhạc định hình đủ để hiện thân trong các sonata. Tùy theo mục đích sử dụng mà chia thành cantata tôn giáo và cantata thế tục.
6. Oratorio: xuất phát từ orare trong tiếng Ý nghĩa là “cầu nguyện”. Ban đầu thuật ngữ oratorio có nghĩa là “nhà nguyện”, nơi sinh hoạt của một cộng đồng tôn giáo.
7.  Các hình thức fuga.
8.  Sonata: xuất phát từ sonare trong tiếng Ý với nghĩa đen là “phát ra âm thanh”.
9. Các hình thức phong cách biến tấu.
10. Các điệu nhảy thường gặp là  Allemande (của Đức), Courante (của Pháp), Sarabande (của Tây Ban Nha), Gigue (của Anh-Ailen)...
11. Các hình thức ứng tác cho đàn phím.

 

 

 

Tags:

ĐỌC NHIỀU NHẤT