1. Về cách tính điểm đánh giá bộ phận, điểm học phần, điểm trung bình chung (Điều 22 & 23)
Theo Qui chế 43, việc cho điểm học phần được tiến hành theo trình tự: Giảng viên (GV) chấm theo thang điểm 10, điểm này sau đó được chuyển sang thang điểm chữ: A (8.5 - 10), B (7.0 – 8.4), C (5.5 – 6.9), D (4.0 – 5.4), F (dưới 4). Điểm chữ này sau đó lại được chuyển đổi sang thang điểm 4 để tính điểm trung bình chung (ĐTBC): A=4, B=3, C=2, D=1, F=0.
Việc sử dụng thang điểm chữ giúp cho sự giao lưu/trao đổi học vấn với các nước trên thế giới được thuận lợi hơn, nhưng sự chuyển đổi qua nhiều bước như trên cùng với tính không liên tục của các thang đo đã làm cho sai số của kết quả cuối cùng tăng lên đáng kể. Thử xem một ví dụ:
Ví dụ 1: So sánh ĐTBC của hai sinh viên (SV) sau năm thứ nhất theo hai thang điểm 10 và 4, với giả định cả hai đều tích lũy được 30 tín chỉ ứng với 10 học phần, mỗi học phần 3 tín chỉ:
- SV 1: 10 học phần đều đạt 5đ/10
ĐTBC (thang 10): A = 5x3x10/30 = 5đ
ĐTBC (thang 4): A = 1x3x10/30 = 1đ
- SV 2: 5 học phần đạt 5đ/10, 5 học phần đạt 5.5đ/10
ĐTBC (thang 10): A = (5x3x5 + 5.5x3x5)/30 = 5.25đ
ĐTBC (thang 4): A = (1x3x5 + 2x3x5)/30 = 1.5đ
Kết quả trên cho thấy nếu theo thang điểm 10 thì ĐTBC của SV 2 chỉ cao hơn ĐTBC của SV 1 là 5%, trong khi sự chênh lệch theo thang điểm 4 lên đến 50%!
Để hạn chế sự chênh lệch quá lớn như trên, nhiều nơi áp dụng hệ tín chỉ cho phép GV chấm điểm trực tiếp theo thang điểm chữ và sau đó điểm này được qui đổi sang thang điểm số với thang đo chi tiết hơn. Một vài ví dụ đặc trưng:
- Washington State University, Hoa Kỳ: A=4.0, A-=3.7, B+=3.3, B=3.0, B-=2.7, C+=2.3, C=2.0, C-=1.7, D+=1.3, D=1.0, F=0.0 (thang điểm được dùng ở nhiều trường đại học Hoa Kỳ)
- Simon Fraser University, Canada: A+=4.33, A=4.00, A-=3.67, B+=3.33, B=3.00, B-=2.67, C+=2.33, C=2.00, C-=1.67, D=1.00, F=0.00
- National University of Singapore: A+=A=5, A- =4.5, B+=4.0, B=3.5, B-=3.0, C+=2.5, C=2.0, D+=1.5, D=1.0, F=0.0
- Chulalongkorn University, Thái Lan: A=4.0, B+=3.5, B=3, C+=2.5, C=2.0, D+=1.5, D=1.0, F=0.0
Mặc dù Qui chế 43 cho phép các trường có thể sử dụng (hay không) thang điểm chữ có nhiều mức, thiết nghĩ đây là điều nên bắt buộc để tránh sự thiệt thòi cho SV và tạo sự thuận lợi hơn cho việc chuyển đổi kết quả học phần giữa các trường một khi có sự liên thông. Việc Qui chế 43 yêu cầu GV chấm theo thang điểm 10 (với một số lẻ) là phù hợp với thói quen lâu nay, tuy nhiên để tăng độ chính xác khi chuyển sang thang điểm chữ thì thang chuyển đổi cần được chi tiết hơn. Xem ví dụ ở Bảng 1 (do tác giả đề xuất, tương ứng với thang chuyển đổi của nhiều trường đại học Hoa Kỳ và khá phù hợp với Qui chế 43).
Bảng 1: Bảng chuyển đổi các thang điểm đề xuất
|
Thang điểm 10
|
Thang điểm chữ
|
Thang điểm 4
|
|
9.1 - 10
|
A
|
4.0
|
|
8.5 - 9.0
|
A-
|
3.7
|
|
8.0 - 8.4
|
B+
|
3.3
|
|
7.5 - 7.9
|
B
|
3.0
|
|
7.0 - 7.4
|
B-
|
2.7
|
|
6.4 - 6.9
|
C+
|
2.3
|
|
5.8 - 6.3
|
C
|
2.0
|
|
5.2 - 5.7
|
C-
|
1.7
|
|
4.6 - 5.1
|
D+
|
1.3
|
|
4.0 - 4.5
|
D
|
1.0
|
|
0 - 3.9
|
F
|
0.0
|
Nếu áp dụng bảng chuyển đổi này cho ví dụ 1 thì ĐTBC của hai SV 1 và 2 theo thang điểm 4 lần lượt là 1.3đ và 1.5đ. Sự chênh lệch bây giờ chỉ còn khoảng 15%.