24 Tháng Tư 2014
11:57-11/04/2012
Truy tìm nguồn gốc loài thú lạ trên mái chùa Một Cột
Trần Trọng Dương

Xi vẫn thế kỷ XI-XII, có thể nói là hiện vật xi vẫn
cổ nhất và đẹp nhất trong lịch sử tạo hình Việt Nam.
Từ bài thơ Diên Hựu Tự của Trúc Lâm đệ tam tổ - Thiền sư Huyền Quang (1254 -1334), chúng tôi đã tìm hiểu về nguồn gốc xuất xứ của hình tượng xi vẫn, loài thú lạ vẫn thường được đắp tượng trang trí trên nóc, mái các công trình kiến trúc cổ.
Bài thơ có hai câu như sau:

Xi vẫn đảo miên phương kính lãnh
Tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn


(Hình xi vẫn ngủ ngược trên gương nước lạnh
Đôi bóng tháp thon vút như ngón tay ngọc giá băng)

Ở đây ta bắt gặp xi vẫn - một loài thú lạ. Thơ văn Lý Trần ghi đó là con xi vẫn, dịch sang thơ là:

In ngược hình chim, gương nước lạnh
Sẫm đôi bóng tháp, ngón tiên hàn


Và chú thích rằng: “Xi vẫn: hoặc con xi vĩ là hình những con cú được chạm hoặc đắp nổi trên các nóc đình chùa. Ở chùa Một Cột ngày nay là hình con rồng”1. Vậy con vật này là thuộc loài gì? Chúng có xuất xứ từ đâu, và ý nghĩa biểu tượng của nó là gì?

Xi vẫn còn có tên là li vẫn, li đầu, xi vĩ, từ vĩ, long vẫn, long vỹ, li hổ, li long  cù vĩ, xi manh, thôn tích thú hay vẫn thú, đều do người Trung Hoa dịch từ tiếng Phạn là Makara (Ma Kiệt ngư, Ma Ca La, Ma Già La). Hình của nó thường được đắp trên nóc, mái của các công trình kiến trúc thời cổ, với miệng há rộng, hoặc ngậm vào đầu kìm (nên mới có chữ vẫn là “miệng”). Ở Nhật Bản gọi là hổ, kim hổ, shibi (xi vĩ), hay hổ mâu, trong đó hổ trỏ loài cá kình, còn mâu trỏ hai vây (như hai lưỡi kiếm sắc nhọn) của loài cá này.

Từ  văn hóa Hindu và Phật giáo Ấn Độ…


Loài thú huyền thoại makara trong văn hóa Ấn Độ chuyên sống ở dưới nước. Ban sơ, makara thường có hình đầu thú (đầu voi, đầu cá sấu,…), phần sau là đuôi cá, cũng có khi là đuôi công trống2. Makara là vật cưỡi của Ganga - chúa tể sông Hằng và Varuna - chúa tể biển cả. Makara trong tiếng Sanscrit nghĩa là một loài rồng biển, dịch sang tiếng Anh là “sea-dragon”, các tiếng trong nhánh Hán - Tạng gọi là “thủy tinh”3, người Việt hiện nay thường gọi là “thủy quái”, còn trong tiếng Hindu thì có nghĩa là con cá sấu. Trong các bức phù điêu ở nhiều đền thờ Hindu giáo, hàng đoàn makara nối đuôi nhau chạy như dòng chảy miên viễn của sông Hằng. Nó là biểu tượng của con sông này, và rộng hơn là biểu tượng của nước.

Việc thờ thần Makara đã được truyền từ Hindu giáo vào Phật giáo Ấn Độ. Trong ý nghĩa biểu trưng của phái Mật tông, đây là con vật cưỡi của Mantra Vam, tương ứng với yếu tố nước, là biểu tượng của những cơn mưa lành4.

…đến
xi vẫn Trung Hoa


Cùng với sự truyền bá Phật giáo, makara đã xuất hiện ở khắp Đông Nam Á và Đông Á5. Makara vào Trung Hoa quãng đời nhà Hán, được dân gian hóa bằng các huyền thoại, trước khi đi vào cung đình. Sách Thái Bình ngự lãm thuật lại sự tích như sau:

Vào đời Hán, sau khi điện Bách Lương bị hỏa hoạn, có người thầy mo đất Việt nói rằng: ‘ngoài biển có con ngư cù (rồng cá), đuôi giống đuôi chim xi, thúc sóng mà làm mưa’, bèn tạc tượng con thú ấy để yểm hỏa tai.

Hán Vũ đế là người chính thức đưa loài linh thần của Phật giáo này vào văn hóa cung đình bằng việc đắp hình trên các nóc điện, coi đó như vị thần trừ hỏa hoạn, và định danh cho nó là xi vẫn. Hình ảnh đuôi công trống được thay thế bằng đuôi chim cú (chim xi). Người Trung Quốc cũng nhanh chóng Hoa hóa nó theo nhiều cách khác nhau (tên gọi, hình dáng…), và hầu như quên đi cái tên Ấn Độ cũng như nguồn gốc Phật giáo của nó.

Vật khảo cổ sớm nhất hiện nay về con xi vẫn được khắc vào năm 134. Từ Hán đến Đường, xi vẫn giữ hình dạng nguyên thủy – đầu rồng, đuôi chim xi. Đến thời Nam Bắc triều, xi vẫn thường được đắp cùng các vân mây ở Long Môn. Từ vãn Đường, đầu rồng (thú) với miệng há rộng được nhấn mạnh, còn đuôi được cách điệu thành dạng khí mây bốc lên trời. Từ đời Tống Minh trở về sau, xi vẫn được Hoa hóa một lần nữa trong huyền thoại long sinh cửu tử. Kể từ đây, hình tượng con xi vẫn mang dáng dấp rồng (đầu, thân, đuôi) ngày càng xuất hiện nhiều hơn. Có khi con xi vẫn - rồng này còn được tạc cùng một thanh kiếm (hay kích) - biểu tượng của sấm sét và mưa gió như là một điệp thức biểu tượng về trừ hỏa-làm mưa, hay cao hơn nữa là biểu tượng uy quyền- trừ tà- trừ ma.

Như vậy, xi vẫn là một con vật huyền thoại được dùng trang trí trên nóc, mái các công trình kiến trúc đời cổ, với ý nghĩa tượng trưng cho việc yểm trừ hỏa tai. Việc xi vẫn thường được đắp ở hai bên đầu kìm hay góc điện, nơi nước mưa trôi xuống, hẳn có mục đích thực dụng bởi nó giúp tránh thấm dột.

Xi vẫn ở Việt Nam

Ở Việt Nam, ngoài giới chuyên môn, hiện nay không mấy ai biết xi vẫn là con vật gì. Tư liệu sớm nhất đề cập xi vẫn chính là câu thơ của Huyền Quang. Trong thời trung đại, chúng tôi còn thấy con vật này được chép trong sách Quần thư tham khảo của Phạm Đình Hổ khi ghi về thuyết long sinh cửu tử như sau: “Con xi vẫn hình dạng tựa con thú, tính thích trông giữ. Con thú ở nóc điện ngày nay chính là nó. Lý Tây Nhai người đời Tống cho nó là đuôi của con chim cưu, bởi căn cứ lời thầy mo nước Việt đời Hán là trong biển có con cù, đuôi nó giống con chim cưu, khi nó đập sóng thì mưa xuống. Cho nên làm hình dạng nó đặt trên nóc điện để yểm hỏa tai.”6 Có thể nói, những ghi chép của Phạm Đình Hổ về xi vẫn chịu ảnh hưởng của xu hướng “rồng hóa”, “thú hóa” từ đời Nguyên Minh về sau.

Các dịch giả của Thơ văn Lý Trần căn cứ hiện vật trên mái chùa Một Cột ngày nay mà ghi rằng đó là con rồng.

Như ghi chép của Phạm Đình Hổ, thì xi vẫn đã được Việt hóa bằng hình ảnh con rồng hoặc con thú có bốn chân, và được gọi là con (là cách đọc trại âm của thú - âm Bắc Kinh là shou). Đặc điểm của con xô là đuôi thường uốn cong, có khi thành một chùm mây xoắn cách điệu. Có người giải thích rằng, đó là biểu hiện của tín ngưỡng thờ thần mưa trong cư dân nông nghiệp. Tuy nhiên, có thể khẳng định một lần nữa rằng đây vẫn là biểu tượng của thần nước từ văn hóa Ấn Độ và thần trừ hỏa tai có nguồn gốc Trung Hoa.

Xi vẫn ở chùa Một Cột

Hình trên (nguồn: vi.wikipedia.org) là conxi vẫn trên nóc chùa Một Cột ngày nay. Dễ dàng nhận thấy đầu rồng đang há miệng ngậm lấy phần thân của tầu đao. Thân của xi vẫn đã cách điệu thành hình lá trông giống như đồ án long diệp (rồng lá) hoặc chỉ như là phần bờm của xi vẫn. Tuy nhiên, kiến trúc này mới được xây lại từ năm 1955, sau khi Pháp rút khỏi nước ta. Về phong cách mỹ thuật, có thể tạm thời nhận định là chịu ảnh hưởng của mỹ thuật thời Nguyễn muộn (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX).

Việc đi tìm hình ảnh xi vẫn qua thư tịch Việt Nam rất khó khăn bởi sách vở thời Lý Trần đã thất tán gần hết. Chúng tôi chuyển hướng đi tìm qua các hiện vật khảo cổ. May mắn thay, các hiện vật còn lại đến nay, mà giới khảo cổ gọi là “đầu rồng”, cũng đủ để ta dựng lại hình ảnh khá sinh động và phong phú về xi vẫn.


Ở thế kỷ XIII-XIV, triều Trần, chúng ta còn một hiện vật bằng đất nung cao 59 cm tại Bảo tàng Nam Định. Đế của hiện vật đã bị vỡ một phần, nhưng phần còn lại đủ cho ta thấy đó là loại ngói ốp phía trên nóc máí7.
 
Hiện vật thứ hai cũng tương tự như vậy (cao 37cm), được tìm thấy tại tháp Phổ Minh (Nam Định). Chỉ có điểm khác là phần chân đế là một viên gạch phẳng. Điều này dẫn chúng ta đến nhận định rằng, đây là tượng xi vẫn được gắn trên một mặt bằng, có thể là trên nóc thượng lương hoặc trên bờ tường của kiến trúc đó.

Hiện vật thứ ba cho thấy phong cách cuối thời Lý tại Hoàng Thành Thăng Long. Bờm xi vẫn được tạo hình rất đẹp, các tia bờm uốn lượn nhịp nhàng. Phần râu và mũi được đặc tả nhấn mạnh, miệng ngậm hỏa châu. Cổ khắc vẩy cá. Phần chân là đế ốp dạng vòm.

Hiện vật cuối cùng là tượng xi vẫn thế kỷ XI-XII. Đây là thời thịnh trị của nhà Lý. Tượng cao ngang người, phong cách hoành tráng. Các đường lượn của tua và bờm có sự phối hợp với nhau mỹ lệ đến kỳ lạ. Có thể nói đây chính là hiện vật xi vẫn cổ nhất và đẹp nhất trong lịch sử tạo hình Việt Nam, xứng đáng làm biểu tượng cho đất Thăng Long ngàn năm văn vật.

***

Từ câu thơ của thiền sư Huyền Quang, chúng tôi đã tìm hiểu về nguồn gốc xuất xứ của hình tượng xi vẫn trong văn hóa cổ Phương Đông. Có thể khẳng định, từ makara trong Hindu giáo và Phật giáo Ấn Độ cho đến hình ảnh xi vẫn trong văn hóa kiến trúc Trung Hoa và Việt Nam, đã có những tiếp biến văn hóa khác nhau, vô cùng đặc sắc ở từng dân tộc, từng khu vực. Riêng ở Việt Nam, biểu tượng xi vẫn có những chuyển biến khác nhau ở từng thời kỳ. Thời Lý- Trần, xi vẫn được đặc tả ở râu, bờm, lưỡi và không có thân hay đuôi; miệng không há to dữ dằn như ở Trung Hoa mà luôn ngậm một viên hỏa châu. Phong cách mỹ thuật duyên dáng, tinh tế ấy phần nào thể hiện tài hoa của con người Đại Việt vào thời kỳ đó. Xi vẫn thời Lê chịu ảnh hưởng của phong cách nhà Minh. Đến Nguyễn, xi vẫn đã được “long hóa”, hoặc “thú hóa” để trở thành hình tượng con vật đầu rồng, có bốn chân với móng vuốt sắc nhọn, đôi khi có những vầng mây tỏa ra từ thân và đuôi.

Những khảo cứu của chúng tôi trong bài viết này chỉ mới là những tìm hiểu ban đầu về hình tượng xi vẫn trong kiến trúc cổ nói chung và trong kiến trúc chùa Một Cột nói riêng. Việc trùng tu, xây dựng lại chùa Một Cột,cũng như những di sản văn hóa của cha ông, vẫn còn ở phía trước. Vấn đề là ở chỗ chúng ta ứng xử và phát huy những giá trị văn hóa ấy như thế nào trong thời điểm hiện nay?

---

1. Nguyễn Huệ Chi (chủ biên). Thơ văn Lý Trần (Tập II, quyển Thượng). Nxb KHXH. H.tr. 704-705.

2. Robert Beer (10 September 2003). The handbook of Tibetan Buddhist symbols. Serindia Publications, Inc.. pp. 77

3. Sir Monier Monier-Williams (2005). A Sanskrit-English dictionary: etymologically and philologically arranged, Motilal Banarsidass Publications, p. 771

4. Jean Chevalier và Alain Gheerbrant.1997. Từ điển biểu tượng văn hóa thế thế giới. Nxb Đà Nẵng. tr.556.

5. Việc truyền nhập Makara trong văn hóa Đông Nam Á, chúng tôi xin được trình bày trong một dịp khác.

6. Phạm Đình Hổ. Quần thư tham khảo. trong “Phạm Đình Hổ, tuyển tập thơ văn”. Trần Kim Anh dịch chú, Nguyễn Văn Lãng hiệu đính. Nxb KHXH. H. tr.118.

7. Nhiều tác giả. Cổ vật Việt Nam. Bộ Văn hóa- Thông tin, Cục Bảo tồn Bảo tàng, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Hà Nội. 2003. Hai ảnh si vẫn đời Trần dưới đây trích từ sách này.

 


Thư bạn đọc
Họ tên  *
Địa chỉ
Email *
Nội dung
*
Cập Nhật Hủy
Các tin đã đưa
Chùa Diên Hựu - Một Cột: Lịch sử và biểu tượng - (06/04)
Từ "A Separation" nghĩ về một đặc điểm của giải Oscar gần đây - (05/04)
Danh càng cao, họa càng nhiều - (03/04)
Nhà thơ nữ quyền - (03/04)
Ứng xử thế nào với ngôn ngữ giới trẻ - (30/03)
TS Bùi Trân Phượng được tặng huân chương của Pháp - (29/03)
David Oistrakh, một góc nhìn khác - (26/03)
Chùm thơ của Việt Phương - (26/03)
Hồn thơ Hồ Xuân Hương ở Việt Nam - (23/03)
Về những đỉnh cao văn học - (22/03)
In ấn      Gửi Email  Quay lại
WebOffice - Văn phòng điện tử toàn diện
Đọc nhiều nhất
Mới nhất
Tạp chí Tia Sáng - tiasang.com.vn
Cơ quan chủ quản: Bộ Khoa học Công nghệ. Giấy phép: Số 17/GP-TTĐT ngày 24/01/2011.
Tòa soạn: 70 Trần Hưng Đạo - Hà Nội, Tel: (043)-9426376, Fax: (043)-9426375, Email: tctiasang@gmail.com, tiasang@fpt.vn
Tổng biên tập: Hoàng Thị Thu
Hệ thống được xây dựng trên công nghệ Cổng thông tin điện tử VietPortal