TiaSang
Thứ 5, Ngày 23 tháng 9 năm 2021
Đổi mới sáng tạo

Trái phiếu Việt Nam ra nước ngoài BÁN DỄ NHƯNG PHẢI SỬ DỤNG HIỆU QUẢ

23/11/2005 15:36 -

Ngày 27/10/2005, ngay khi phát hành trên thị trường chứng khoán phố Wall (New York), toàn bộ trái phiếu của Việt Nam đã bán hết veo. Đây là một tín hiệu tích cực nhưng cũng đặt ra một vấn đề lớn hơn: sử dụng vốn vay như thế nào cho hiệu quả?

Thành công đương nhiên
Theo bản tin thị trường của tờ Financial Time, tổng mệnh giá trái phiếu của Chính phủ Việt Nam phát hành là 750 triệu đô la Mỹ, lãi suất coupon là 6,875%, giá bán là 99,223 USD. Điều này có nghĩa là lãi suất thực mà Việt Nam phải trả cho trái phiếu này là 7,13%/năm. Mức lãi suất này được coi là thấp so với các nước có mức tín nhiệm tương đương với Việt Nam. Ở thời điểm hiện tại, lãi suất trái phiếu chính phủ của Indonesia là 7,717%/năm, Philippines là 8,59%. Hầu hết các nước Nam Mỹ như Brasil, Argentina, Colombia đều phải chịu mức lãi suất cao hơn 7,5%. So với một số nền kinh tế mạnh như Hàn Quốc, Úc, Nga thì mức lãi suất mà Việt Nam phải chịu chỉ cao hơn từ 1,32-1,65%.
Rất nhiều tờ báo trên thế giới đã đưa tin hoặc bình luận về sự kiện này. Phải chăng đây là một kết quả ngoạn mục và đầy bất ngờ?

Thực ra, đây là điều đương nhiên, chẳng có gì là bất ngờ cả. Chúng ta biết rằng, ở các thị trường chứng khoán như New York, London,... hiếm khi có chuyện tâm lý bầy đàn xảy ra, nhất là đối với trái phiếu. Việc quyết định mua ở mức giá nào được các nhà đầu tư, các nhà phân tích chuyên nghiệp tiến hành phân tích rất tỷ mỉ. Sức khỏe của nền kinh tế tốt thì lãi suất thấp. Ngược lại, nền kinh tế có vấn đề thì phải chịu lãi suất cao hơn. Của nào tiền ấy, rủi ro cao lãi suất phải cao dường như là quy luật bất biến ở các thị trường hiệu quả.
  Việt Nam đi theo con đường nào, xây dựng một trung tâm nghiên cứu, một đại học đẳng cấp quốc tế để làm hạt nhân cho nền kinh tế tri thức hay tập trung phát triển các ngành công nghiệp nặng, nền tảng của nền kinh tế sản xuất? Hay kết hợp cả hai? Quyết định là của chính Việt Nam và tương lai của Việt nam sẽ dựa trên chính các quyết định này.
Việc lãi suất trái phiếu của Việt Nam thấp hơn lãi suất trái phiếu của một số nước là do nền kinh tế Việt Nam được dự báo, trong thời gian tới, vẫn duy trì được sự ổn định và có tốc độ tăng trưởng, đồng thời hiện tại, tỷ lệ nợ nước ngoài, rất là nợ thương mại của Việt Nam đang rất thấp. Ngoài yếu tố này, chẳng còn sự thần kỳ nào khác cả.
Việc phát hành trái phiếu quốc tế của Việt Nam thành công là một tín hiệu tích cực. Điều này thể hiện mức tín nhiệm của Việt Nam đã gia tăng làm cho các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm hơn khi đầu tư vào Việt Nam. Có thể sau sự kiện này, việc thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) cũng như gián tiếp (FPI) sẽ gia tăng, thúc đẩy hơn nữa kinh tế Việt Nam tăng trưởng.
Việc trái phiếu bán chạy trên thị trường quốc tế cũng là điều kiện để Việt Nam có thể huy động thêm nguồn vốn, tăng cường đầu tư, thúc đẩy cỗ máy tăng trưởng, khi mà nguồn vốn trong nước đang đi dần đến điểm bão hòa, khó huy động hơn.
Sử dụng tiền vay – con dao hai lưỡi
Việc phát hành trái phiếu quốc tế của Việt Nam sẽ có những tác tích cực. Tuy nhiên, nếu không có những giải pháp hợp lý, những bất lợi sẽ nổi lên, đôi khi triệt tiêu hẳn những tác động tích cực, thậm chí còn làm cho tình huống trở nên tồi tệ hơn.
Ta biết rằng, huy động trái phiếu có nghĩa là chính phủ đi vay ở nước ngoài. Đã đi vay thì phải trả mà còn phải trả với lãi suất cao. Một khoản đi vay chỉ có thể trả được khi suất sinh lợi mà nó làm ra tối thiểu phải bằng lãi suất đi vay. Con số cụ thể ở đây là 7,13%.
Vấn đề đặt ra đầu tiên đối với khoản vay này là phải sử dụng một cách hiệu quả. Có nghĩa là, việc sử dụng khoản vốn này không được rơi vào vết xe đổ của các khoản vốn vay ODA. Tức là khi đi vay chỉ lãi suất tượng trưng một vài phần trăm/năm, nhưng ta phải chịu những ràng buộc để lãi suất thực phải trả cao hơn gấp nhiều lần. Hoặc rơi vào tình trạng đầu tư lãng phí ngân sách hiện nay với một tỷ lệ thất thoát không thể tính toán được hoặc không tiện nói ra. Hoặc hoạt động không hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước, khi mà tổng vốn nhà nước bỏ vào trên 200.000 tỷ đồng (gấp 17 lần số tiền huy động lần này), nhưng suất sinh lợi  hàng năm các doanh nghiệp này tạo ra chưa đến 5%.
Khi tiền của ta bỏ ra, nếu hoạt động không hiệu quả thì ta chỉ mất vốn. Nhưng trong trường hợp đi vay, nếu không trả được nợ thì sẽ có hậu quả rất phức tạp. Do đó, điều vô cùng quan trọng là Việt Nam cần phải lựa chọn mục tiêu hợp lý và thực hiện nó một cách đúng đắn.

Mục tiêu phát triển nào là hợp lý?
Trong hai nền kinh tế được đánh giá là năng động nhất hiện nay, Trung Quốc được xem là xưởng sản xuất của thế giới, với những đại nhà máy, đại công trường, đại diện cho nền kinh tế sản xuất. Ấn Độ được xem là một phần bộ não của thế giới, với những trung tâm sản xuất phần mềm, sáng tạo và gia công công nghệ, đại diện cho nền kinh tế tri thức.
Trung Quốc có nền chính trị, xã hội ổn định hơn, tốc độ tăng trưởng GDP cao. Tốc độ tăng trưởng này phụ thuộc nhiều vào các khoản đầu tư từ vốn vật chất. Ngược lại, Ấn Độ có nền chính trị, xã hội không ổn định, nhiều vùng bất ổn, nhưng tốc độ tăng trưởng GDP vẫn cao và chủ yếu dựa vào nền kinh tế tri thức, dựa vào chất xám. Nếu bây giờ hoán đổi ngược lại, Ấn Độ có nền chính trị xã hội ổn định thì tốc độ tăng trưởng sẽ tốt biết chừng nào. Ngược lại, nếu Trung Quốc gặp phải vấn đề bất ổn thì khó mà duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định như hiện nay.
Rõ ràng, nhìn vào hai nền kinh tế đông dân nhất thế giới, với hai chiến lược phát triển khác nhau đều gặt hái được những thành công rực rỡ. Nhưng dường như, lựa chọn đầu tư vào kinh tế tri thức thay vì đầu tư vào việc sản xuất hàng hóa có vẻ hợp lý hơn. Khó có nước nào có thể tẩy chay hay gây khó dễ đối với các sản phẩm phần mềm hay dịch vụ thuê ngoài (outsourcing) của Ấn Độ, vì tất cả các sản phẩm này đều có sự dị biệt. Ngược lại, chúng ta đang chứng kiến Trung Quốc vất vả và khổ sở trong cuộc chiến dệt may và chắc chắn còn nhiều cuộc tranh chấp thương mại nữa đang chờ đón họ.
Việt Nam đi theo con đường nào, xây dựng một trung tâm nghiên cứu, một đại học đẳng cấp quốc tế để làm hạt nhân cho nền kinh tế tri thức hay tập trung phát triển các ngành công nghiệp nặng, nền tảng của nền kinh tế sản xuất? Hay kết hợp cả hai? Quyết định là của chính Việt Nam và tương lai của Việt Nam sẽ dựa trên chính các quyết định này.
Việc sử dụng khoản vốn này không được rơi vào vết xe đổ của các khoản vốn vay ODA. Tức là khi đi vay chỉ lãi suất tượng trưng một vài phần trăm/năm, nhưng ta phải chịu những ràng buộc để lãi suất thực phải trả cao hơn gấp nhiều lần. 

Đưa ngành công nghiệp đóng tàu lên một tầm cao mới?
Ngay sau khi trái phiếu phát hành ở nước ngoài thành công, khoản tiền này đã được chuyển sang cho Tổng công ty Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (gọi tắt là Vinashin) để thực hiện kế hoạch phát triển Tổng công ty nói riêng và ngành công nghiệp tàu thủy Việt Nam nói chung theo kế hoạch vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hồi tháng 10. Mục tiêu của chiến lược này là đến năm 2010 đạt kim ngạch 1 tỷ đô la Mỹ và 3 triệu tấn tàu các loại, tạo tiền đề cho những năm tiếp theo, đồng thời nhanh chóng đưa ngành công nghiệp tàu thủy và hàng hải Việt Nam hội nhập với khu vực và quốc tế, phấn đấu trở thành ngành kinh tế xuất khẩu chủ lực có tốc độ phát triển cao và bền vững, đạt tỷ lệ nội địa hoá 60% năm 2010[1].
Đạt được mục tiêu này là điều mong muốn của chúng ta, nó chính là điều mà Nhật Bản đã đạt được cách đây vài chục năm, Hàn Quốc đạt được cách đây hơn chục năm và Trung Quốc đang có được. Nếu sau 5-10 năm nữa, chúng ta đạt được mục tiêu này thì là niềm đáng tự hào. Tuy nhiên để thực hiện tốt mục tiêu này, có những vấn đề cần lưu ý.
Nhìn vào Vinashin, đơn vị được ủy thác gánh vác trọng trách này, thấy rằng vào cuối năm 2004, tổng tài sản của họ hơn 750 triệu đô la Mỹ một chút, tương đương với số vốn vừa được giao, tổng doanh thu khoảng chừng 350 triệu đô la, và hệ số ROE (suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu thấp hơn con số 7,13% rất nhiều). Hoạt động của Vinashin mới có sự khởi sắc trong những năm gần đây thôi. Trong kế hoạch được phê duyệt trong năm 2001, với tốc độ tăng trưởng hàng năm là 30% thì đến năm 2010, quy mô về doanh thu, tài sản của Vinashin sẽ gấp 4 lần hiện nay đã là kinh khủng lắm rồi, nhưng kế hoạch mới được duyệt sẽ là gấp 5 lần. Tốc độ phát triển này đòi hỏi phải có một cách tổ chức cực kỳ năng động và khả năng thích ứng vô cùng lớn. Nếu không, sẽ dẫn tới tình trạng “dục tốc bất đạt".
Để triển khai kế hoạch phát triển này, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt lại Điều lệ tổ chức và hoạt động, đồng thời cho phép Vinashin thí điểm thuê tổng giám đốc nước ngoài. Đây là bước chuẩn bị tốt và hợp lý. Tuy nhiên, ai cũng biết rằng, khó khăn nhất của các doanh nghiệp nhà nước hiện nay là vấn đề quản trị công ty, xử lý mâu thuẫn giữa chủ sở hữu và người điều hành. Trong trường hợp thuê người nước ngoài, nếu không có cơ chế hợp lý thì có thể xảy ra tình trạng lợi dụng nguồn lực của chúng ta để tìm kiếm lợi ích cho bản thân họ. Còn nhiều, còn nhiều vấn đề khác, nhưng theo ý kiến chủ quan của người viết, trên đây là hai vấn đề đáng lưu ý nhất trong việc triển khai chiến lược phát triển Vinashin nói riêng, ngành công nghiệp đóng tàu nói chung.
Thay cho lời kết
Thế hệ này đi vay, thế hệ sau sẽ phải trả. Các khoản nợ chỉ có thể trả được khi mà một nền tảng vững chắc được để lại. Nếu không gánh nặng nợ nần cho con cháu chúng ta là rất khủng khiếp. Ở thời điểm hiện tại, việc vay tiền của Việt Nam là không khó, vấn đề khó khăn hơn cả là làm sao sử dụng đồng tiền này cho hiệu quả, để trong một thời gian ngắn nữa thôi chúng ta có thể sánh vai với các cường quốc năm châu.
                                                                                                                      Huỳnh Thế Du
ảnh: ảnh 1: Các khoản nợ chỉ có thể trả được khi mà một nền tảng vững chắc được để lại. Nếu không gánh nặng nợ nần cho con cháu chúng ta là rất khủng khiếp. ảnh: Tiến Dũng
ảnh 2: Khoản tiền phát hành trái phiếu Chính phủ đã được chuyển cho Tổng công ty Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (gọi tắt là Vinashin) để phát triển ngành công nghiệp tàu thủy Việt Nam. Ảnh: Vũ Dũng


[1] http://www.vinashin.com.vn/Vietship2006_files/page0001.htm
Tags: