TiaSang
Thứ 4, Ngày 23 tháng 9 năm 2020
Tin tức sự kiện

Nghiên cứu tư tưởng theo quan điểm phức hợp

21/05/2008 10:13 -

Là tập thứ tư trong bộ “Phương pháp” (gồm 6 tập) nghiên cứu về tư tưởng theo quan điểm phức hợp, Phương pháp 4 – Tư tưởng của Edgard Morin (Chu Tiến Ánh Phạm Khiêm Ích NXB Đại học Quốc gia Hà Nội) xem xét tri thức và tư tưởng theo quan điểm văn hóa - xã hội (sinh thái học về tư tưởng), quan điểm về cuộc sống của tư tưởng, về tính tự chủ/phụ thuộc của thế giới tư tưởng (noosphère -trí quyển) và quan điểm tổ chức của tư tưởng (noologie - trí học).

“Sinh thái học về tư tưởng” là tên đề phần thứ nhất cuốn sách. Điều đó thể hiện một quan niệm mới và cách đặt vấn đề mới trong nghiên cứu tri thức và tư tưởng.
Sinh thái học về tư tưởng khảo sát những điều kiện văn hóa - xã hội và những điều kiện sinh học - não của sự sản sinh ra tri thức và tư tưởng. Sở dĩ có thể và cần phải nghiên cứu tri thức và tư tưởng từ quan điểm sinh thái học, bởi vì “mọi tri thức con người đều không ngừng nảy sinh từ thế giới sự sống, hiểu theo nghĩa sinh học của chữ này”. Mặt khác “mọi  tri thức triết học, khoa học, hay thi ca đều nảy sinh từ thế giới của cuộc sống văn hóa thông dụng”.
Văn hóa thấm sâu vào con người ngay trước khi còn trong bụng mẹ (ảnh hưởng của môi trường, tiếng động, âm nhạc, thực phẩm và tập quán của mẹ), rồi khi ra đời (kỹ thuật hộ sinh, chăm sóc trẻ sơ sinh) đến việc nuôi dạy và giáo dục của gia đình và xã hội. Giáo dục cung cấp cho mỗi người những nguyên tắc, kỹ năng và công cụ nhận thức. Như vậy, từ mọi phía, nền văn hóa tác động và tác động trở ngược lên tâm trí/bộ não để tạo hình ở đó những cơ cấu nhận thức. Văn hóa đã tác động tích cực với tính cách là nhân tố đồng sản xuất ra tri thức. Do vậy, tri thức và tư tưởng của ta chịu sự kiểm soát không chỉ bởi các hằng số sinh lý và tâm lý, mà bởi cả những biến lượng văn hóa và lịch sử.
Nghiên cứu sinh thái học về tư tưởng là cần, nhưng không đủ để hiểu Cuộc sống của tư tưởng (tên đề phần thứ hai của cuốn sách). Đó là vì nơi cư trú của tư tưởng không phải là sinh quyển (biosphère) mà là trí quyển (noosphère), mặc dù sinh quyển bao trùm trí quyển. “Cũng như vũ trụ vật lý, như sinh quyển, như vũ trụ nhân loại, trí quyển được đặt vào một cuộc đối - lôgic không ngừng nghỉ giữa trật tự, lộn xộn với tổ chức, tại đó các thực thể trí học nảy sinh, phát triển, cải biến và diệt vong” (tr. 262).
Bằng nhiều con đường khác nhau, các nhà ngôn ngữ học, lôgic học, toán học, sinh học đều đi đến xác nhận rằng các sản phẩm trí tuệ loài người có tồn tại khách quan, vừa bị phụ thuộc, vừa mang tính tự chủ. Ý tưởng này đã được nhà triết học và cổ sinh vật học người Pháp Teilhard de Chardin (1881-1955) nêu lên khi ông đề ra khái niệm “trí quyển”. Ông gọi “ trí quyển” là “môi trường thần thánh” trong cuốn sách “Le Milieu Divin” của ông xuất bản năm 1924.
Còn nhà vật lý học Pierre Auger và nhà sinh học Jacques Monod (1910 - 1976) đi tới trí quyển bằng con đường sinh - lý - hóa học. Pierre Auger nhận định rằng tư tưởng thuộc về “giới” thứ ba theo nghĩa sinh học của thuật ngữ “giới” (règne). Tư tưởng có cuộc sống riêng cũng giống như các siêu vi khuẩn (virus) trong môi trường (văn hóa/bộ não), sự sống của chúng có năng lực tự dinh dưỡng, tự sinh sản.
Chúng ta sống trong một vũ trụ đầy những ký hiệu, tượng trưng, hình tượng, thần thoại, tư tưởng... Chúng là những yếu tố trung gian môi giới trong quan hệ giữa con người với nhau, với xã hội, với thế giới. Trên ý nghĩa đó, trí quyển hiện hữu trong mọi tầm nhìn, quan niệm, giao dịch giữa mỗi chủ thể con người với ngoại giới, với những chủ thể khác và với chính bản thân. “Trí quyển có một đầu vào chủ thể, một chức năng liên - chủ thể, một sứ mệnh xuyên - chủ thể, song nó cũng chính là một bộ phận cấu thành khách thể của hiện thực con người”.
Để hiểu biết về trí quyển, cần vất bỏ mọi thứ chủ nghĩa duy tâm muốn gán cho tư tưởng và thần thoại một hiện thực tự thân, làm chủ mọi sự vật trên thế giới. Mặt khác phải vất bỏ mọi thứ chủ nghĩa quy giản (réductionnisme) chủ trương hòa tan trí quyển hoặc trong trí tuệ/bộ não con người (như tâm lý luận - psychologisme), hoặc trong xã hội (như xã hội luận - sociologisme).
Mỗi quan điểm trên đây đều đúng một phần và sai trong toàn bộ, không lý giải được tính tự chủ/phụ thuộc của các thực thể trí học. Để lý giải chúng, ta cần kết hợp chặt chẽ quan điểm trí học với quan điểm tâm lý học và xã hội học, xem xét vấn đề trong khuôn khổ một thể phức hợp bộ ba: tâm lý quyển, xã hội quyển, trí quyển.
 Tâm lý quyển (psychosphère) là quyển các trí tuệ/bộ não cá nhân. Đó là cội nguồn các biểu tượng, tưởng tượng, mơ mộng, tư duy. Trí tuệ/bộ não làm cho các biểu tượng, thần thoại, tín ngưỡng cố kết lại, hình thành các hiện hữu trí tuệ. Thế nhưng, việc cụ thể hóa các thần thoại, tư tưởng, chủ thuyết chỉ có khả năng thực hiện trong và bởi xã hội quyển (sociosphère): văn hóa, được sản sinh từ những tương tác giữa các trí tuệ/bộ não, chứa đựng ngôn ngữ, hiểu biết, quy tắc lôgic và chuẩn thức. Chính điều đó sẽ cho phép thần thoại, thần linh, tư tưởng, chủ thuyết truy cập thật sự vào hiện hữu. Một khi đã ra đời trong trí quyển, các hiện hữu trí tuệ không ngừng tự tái sinh. Các thần thoại, thần linh, tư tưởng được tái sinh bằng sự thờ cúng, nghi lễ, đức tin, tình yêu, sự sùng bái. Chúng cũng được nhân lên qua hàng nghìn mạng truyền thông, diễn ngôn, giáo dục, văn tự, hình ảnh… Như vậy, trí quyển cũng là một trong ba cấp độ đồng sinh sản ra tri thức và tư tưởng.
Các trí quyển khác nhau từ những nền văn hóa đa dạng của Trái Đất đang giao lưu với nhau hoặc nhiều hoặc ít. Nhưng tất cả đều được bao bọc bởi một trí quyển toàn hành tinh mà bản thân cũng đang dãn nở y hệt như vũ trụ vật lý. Trong trí quyển cũng thường xuyên diễn ra những biến đổi to lớn, những cuộc cách mạng trí học, dẫn đến sự ra đời những tư tưởng mới.
Việc khảo sát trí quyển, khảo sát cuộc sống của những thực thể cư trú tại trí quyển, chính là bắt tay xây dựng trí học như một môn khoa học về tư tưởng (la science des idées). Chúng ta quan niệm rằng “trí quyển chính là nơi mà tri thức được tổ chức thành các hệ thống tư tưởng”. Cho nên trí học cũng là môn học về tổ chức tri thức, tổ chức tư tưởng. Hệ thống tư tưởng cũng như hết thảy các thực thể trí học đều có một bộ máy phức hợp, cấu thành bởi một ngôn ngữ,một lôgic học, và ở một mức sâu xa hơn là cả một chuẩn thức học (paradigmatologie).
Phần thứ ba cuốn sách có tên đề là “Tổ chức của tư tưởng” tập trung nghiên cứu về ngôn ngữ, lôgic học và chuẩn thức học như là ba nhân tố tổ chức của hệ thống tư tưởng.
Phát triển quan niệm của Thomas Kuhn về chuẩn thức (paradigme), Edgar Morin cho rằng thuật ngữ này không chỉ nói về hiểu biết khoa học và cách mạng khoa học, mà còn nói về cả toàn bộ tri thức, toàn bộ tư duy, toàn bộ hệ thống trí quyển. Chuẩn thức nằm sâu ở “hạt nhân” các lý thuyết, các hệ thống tư tưởng. Nghiên cứu sâu về chuẩn thức học, tác giả khẳng định rằng đã đến lúc cần có một cuộc cách mạng về chuẩn thức. Cuộc cách mạng này ảnh hưởng quyết định đến việc hình thành tư duy phức hợp, cải biến được các hạt nhân tổ chức của xã hội, của nền văn minh, văn hóa và trí quyển. Thay đổi chuẩn thức sẽ làm tăng khả năng giao lưu và đối thoại. Đó chính là một điều kiện để loài người được sinh tồn trong tinh thần dân chủ, khoan dung đích thực.

Phạm Khiêm Ích
Tags: