Đạo đức khoa học

Chuẩn mực đạo đức không phải là luật pháp, mà là những qui ước hay điều lệ về hành xử được các thành viên trong ngành nghề chuyên môn chấp nhận như là những kim chỉ nam cho việc ngành nghề. Các điều lệ này cho phép, nghiêm cấm, hay đề ra thủ tục về các hành xử cho các tình huống khác nhau. Trong hoạt động khoa học, hai chữ “hành xử” ở đây bao gồm các lĩnh vực chuyên biệt như thí nghiệm, xét nghiệm, giảng dạy và huấn luyện, phân tích dữ liệu, quản lí dữ liệu, chia sẻ dữ liệu, xuất bản ấn phẩm, trình bày công trình nghiên cứu trước công chúng, và quản lí tài chính. Vậy thì các chuẩn mực đạo đức khoa học cụ thể là gì?

Khó có câu trả lời cho câu hỏi này, bởi vì hoạt động khoa học cực kì đa dạng, do đó các chuẩn mực đạo đức thường tùy thuộc vào từng ngành nghề cụ thể.  Chẳng hạn như các tiêu chuẩn đạo đức cho ngành nông nghiệp khác với các bộ môn khoa học liên quan đến động vật như y sinh học.  Tuy nhiên, theo tôi, có thể tóm lược các tiêu chuẩn đạo đức khoa học qua 6 nguyên tắc cơ bản sau đây:

 

Thành thật tri thức (intellectual honesty). Sứ mệnh của khoa học là khai hóa, khuếch trương và phát triển tri thức. Tri thức khoa học dựa vào sự thật. Những sự thật phải được quan sát hay thu thập bằng những phương pháp khách quan. Khoa học dựa vào những sự thật có thể thấy, có thể nghe, có thể sờ được, chứ không dựa vào kinh nghiệm cá nhân hay suy luận theo cảm tính. Do đó, khoa học đặt sự thật khách quan trên hết và trước hết.

 

Không có khách quan và không có sự thành thật thì khoa học không có ý nghĩa gì cả. Nhà khoa học phải khách quan và thành thật. Nguyên tắc thành thật tri thức được xem là một cột trụ cơ bản nhất trong các nguyên tắc về đạo đức khoa học. Theo nguyên tắc này, nhà khoa học phải tuyệt đối thành thật với những gì mình quan sát hay nhận xét. Nói cách khác, nhà khoa học không nên gian lận trong nghiên cứu, không giả tạo dữ liệu, không thay đổi dữ liệu, và không lừa gạt đồng nghiệp.

 

Cẩn thận. Nhà khoa học phải phấn đấu hết mình để tránh các nhầm lẫn và sai sót trong tất cả các hoạt động khoa học. Do đó, nhà khoa học có nghĩa vụ phải báo cáo đầy đủ những kết quả mà họ đạt được trong quá trình nghiên cứu.  Những báo cáo này phải đầy đủ chi tiết để các nhà khoa học khác có thể thẩm định hay xác nhận (nếu cần thiết). Bất cứ một thay đổi về số liệu, dữ liệu thu thập được đều phải được chú thích rõ ràng (như ghi rõ ngày tháng sửa, ai là người chịu trách nhiệm, và tại sao thay đổi). Khi làm việc như thế, việc sử dụng các phương pháp phi chính thống hay phương pháp phân tích và cách diễn dịch có thể dẫn đến những tiến bộ khoa học. Tuy nhiên, nếu cách làm việc này nhắm vào mục đích đạt được kết luận mà nhà khoa học muốn có thì đó là một vi phạm đạo đức khoa học.

 

Tự do tri thức. Nói một cách ví von, khoa học không bao giờ dừng lại trong hành trình đi tìm sự thật, vì đây là một hành trình liên tục. Nhà khoa học cần được điều kiện để theo đuổi những ý tưởng mới và phê phán những ý tưởng cũ. Họ cũng có quyền thực hiện những nghiên cứu mà họ cảm thấy thú vị và đem lại phúc lợi cho xã hội.

 

Cởi mở và công khai. Nghiên cứu khoa học mang tính tương tác rất cao, và do đó thường tùy thuộc lẫn nhau. Nhà khoa học có trách nhiệm chia sẻ dữ liệu, kết quả và phương pháp nghiên cứu, lí thuyết, thiết bị, v.v… với đồng nghiệp. Nhà khoa học phải cho các đồng nghiệp tiếp cận dữ liệu của mình, nếu cần thiết. Ngoài ra, vì nghiên cứu khoa học là một cuộc tranh tài về ý tưởng và các khái niệm mới nhất không nằm trong mô thức (paradigm) hiện hành. Cuộc “tranh tài” này có thể dẫn đến những xung đột nghiêm trọng. Do đó, cởi mở và thành thật trong tranh luận là những yếu tố đạo đức đóng vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy các tiến bộ khoa học. Qui trình bình duyệt (peer review process) công trình nghiên cứu là một bước quan trọng trong việc thực hiện các nghiên cứu khoa học. Những thói ganh tị, thành kiến hay mâu thuẫn cá nhân có thể làm cho hệ thống này bị thất bại. Do đó, khi phê bình một nghiên cứu của đồng nghiệp, nhà khoa học nên tập trung vào tính hợp lí khoa học và logic của nghiên cứu, chứ không nên dựa vào những cảm nhận cá nhân.

 

Ghi nhận công trạng thích hợp. Nhà khoa học phải ghi nhận những đóng góp của các nhà khoa học đi trước, và tuyệt đối không lấy nghiên cứu của người khác làm thành tích của mình. Tri thức khoa học mang tính tích lũy và được xây dựng dựa vào những đóng góp của nhiều nhà khoa học trong quá khứ và hiện tại.  Ghi nhận công trạng của họ là một qui ước về đạo đức khoa học, và hình thức ghi nhận có thể thể hiện qua tài liệu tham khảo, lời cảm tạ, hay cho họ cơ hội đứng tên đồng tác giả.  Sử dụng công trình hay ý tưởng của đồng nghiệp mà không ghi nhận là một vi phạm đạo đức khoa học.

 

Ngày nay, một công trình nghiên cứu khoa học, nhất là khoa học thực nghiệm, là thành quả của nhiều cá nhân.  Do đó, ai có tư cách đứng tên tác giả đôi khi trở thành một vấn đề tế nhị.  Theo qui ước chung, nhà khoa học có tư cách đứng tên tác giả nếu hội đủ tất cả 3 tiêu chuẩn: (a) Một là đã có đóng góp quan trọng trong việc hình thành ý tưởng và phương pháp nghiên cứu, hay thu thập dữ kiện, hay phân tích và diễn dịch dữ kiện;  (b) Hai là đã soạn thảo bài báo hay kiểm tra nội dung tri thức của bài báo một cách nghiêm túc; Và (c) Ba là phê chuẩn bản thảo sau cùng để gửi cho tập san.

 

Trách nhiệm trước công chúng. Phần lớn hoạt động khoa học là do tài trợ của người dân; do đó, nhà khoa học phải có nghĩa vụ công bố những gì mình đạt được cho công chúng biết. Hình thức công bố có thể là những ấn phẩm khoa học hay những trao đổi trên các diễn đàn quần chúng. Tất cả các cơ sở vật chất sử dụng cho nghiên cứu, kể cả thiết bị, hóa chất, tài chính… là tài sản chung của xã hội; do đó, chúng cần được sử dụng sao cho đem lại lợi ích nhiều nhất cho xã hội. 

 

Mục tiêu quan trọng của khoa học là nhằm mở rộng tri thức con người về các địa hạt như vật lí, sinh học, và xã hội.  Mở rộng ở đây có nghĩa là đi ra ngoài, đi xa hơn những gì đã được biết. Nhưng một tri thức mới hay một khám phá mới chỉ có thể đi vào phạm trù khoa học khi nào nó đã được thẩm định và lặp lại một cách độc lập. Quá trình này có thể thực thi bằng nhiều cách: nhà khoa học thảo luận với cấp trên, với đồng nghiệp, trong các hội nghị quốc tế, hội nghị quốc gia, seminar, hay thậm chí trên bàn cà phê. Do đó, có thể xem hoạt động khoa học là một việc làm mang tính xã hội, chứ không phải là một nỗ lực đi tìm sự thật trong cô đơn, lặng lẽ. Bởi vì mang tính xã hội, cho nên các chuẩn mực về đạo đức khoa học phải là một “thể chế” của bất cứ trung tâm khoa học nào, kể cả trường đại học, và phải được xem như là một mục tiêu của khoa học.

 

Sinh viên và các nghiên cứu sinh từ các trường đại học là những người sẽ chiếm giữ các vị trí quan trọng trong xã hội như nhà lãnh đạo, nhà khoa học và giáo sư tương lai, và việc đảm bảo họ biết được các tiêu chuẩn đạo đức khoa học là một biện pháp để đảm bảo sự ổn định của xã hội cho các thế hệ tiếp nối. Hiện nay, trong bối cảnh nước ta đang có chiến dịch chống tham nhũng, kể cả tham nhũng trong khoa học, vì thế vấn đề truyền đạt các chuẩn mực đạo đức khoa học trong các trường đại học lại càng trở nên cấp thiết hơn.

 

 

 

Một vài trường hợp vi phạm đạo đức khoa học

Eric Poehlman: giả tạo số liệu

 

Poehlman là cựu giáo sư y khoa, một chuyên gia về bệnh béo phì của Trường Đại học Vermont (Mỹ). Trước khi bị phát hiện giả tạo số liệu và đi tù, Poehlman là một trong những “ngôi sao” sáng chói trong lĩnh vực nghiên cứu bệnh béo phì, với hơn 200 bài báo khoa học trên các tập san y khoa quốc tế, và được các đồng nghiệp cũng như các công ty dược mời thuyết giảng. Nhưng 10 bài báo khoa học và bài giảng trong các hội nghị suốt từ 1992 đến 2002 lại là những tác phẩm khoa học dựa vào số liệu do ông giả tạo để phù hợp với lí thuyết của mình.

Năm 1995, Poehlman trình bày dữ liệu mà ông báo cáo là thu thập từ một nghiên cứu đánh giá các đặc điểm về chuyển hóa năng lượng ở phụ nữ trong thời gian trước và sau mãn kinh. Các dữ liệu này được công bố trong một bài báo khoa học có tên là “Changes in Energy Balance and Body Composition at Menopause: A Controlled Longitudinal Study,” trên tập san Annals of Internal Medicine (một tập san y khoa hàng đầu trên thế giới). Trong bài báo Poehlman báo cáo rằng ông đã theo dõi sự chuyển hóa năng lượng trên 35 phụ nữ trong suốt 6 năm liền. Nhưng trong thực tế, Poehlman chỉ theo dõi một bệnh nhân duy nhất, phần còn lại là ông giả tạo số liệu.

Ngoài ra, Poehlman còn giả tạo nhiều số liệu trong hơn 10 bài báo khoa học khác. Chẳng những thế, Poehlman còn ngụy tạo số liệu mà ông cho là “nghiên cứu sơ bộ” để thu hút tài trợ đến gần 3 triệu USD từ NIH (cơ quan tài trợ cho phần lớn nghiên cứu y khoa ở Mỹ).

Sau nhiều năm điều tra, Trường đại học quyết định sa thải Poehlman và Nha liêm chính trong nghiên cứu (ORI) truy tố ông ra tòa. Ngày 28/6/2006, Poehlman bị tòa xử phạt một năm tù và phải hoàn trả cho Nhà nước 542.000 USD. Đây là trường hợp nghiêm trọng nhất và lần đầu tiên trong lịch sử khoa học Mỹ một giáo sư gian lận trong khoa học phải ngồi tù.

Jon Sudbo: mô phỏng số liệu

 

Năm 2005, Tập san Lancet (một tập san y học đứng vào hàng nhất nhì trên thế giới) công bố một công trình nghiên cứu của bác sĩ Jon Sudbo, chuyên gia về ung thư thuộc Bệnh viện Radium và Đại học Oslo (Na Uy).  Trong bài báo, bác sĩ Sudbo và 13 cộng sự viên báo cáo rằng họ đã tiến hành một nghiên cứu đối chứng (case-control study) với 908 đối tượng, và kết quả cho thấy thuốc chống viêm NSAIDs (non-steroidal anti-inflammatory drugs) có hiệu quả làm giảm nguy cơ ung thư miệng.  Phát hiện của bác sĩ Sudbo gây sự chú ý lớn của các chuyên gia trong lĩnh vực ung thư bởi vì các loại thuốc NSAID được sử dụng rất rộng rãi để giảm đau, nhất là đau thấp khớp, và tương đối rẻ, và nếu quả thật thuốc có hiệu quả chống ung thư thì đó là một tin vui cho bệnh nhân: một thuốc mà đạt hai mục tiêu.  Sau khi công bố bài báo, Sudbo trở thành nổi tiếng trong giới chuyên môn về “phát hiện” mà ít ai nghĩ đến đó. 

Nhưng nghiên cứu của Sudbo hoàn toàn giả tạo.  Bác sĩ Sudbo giả tạo tất cả các số liệu và bệnh nhân.  Khi điều tra lại các số liệu gốc (tức cũng giả tạo), người ta mới phát hiện trong số 908 đối tượng ma này, có đến 250 người có cùng ngày tháng năm sinh!  Tuy nhiên, điều đáng chú ý là trong phân tích, Sudbo đã giả tạo rất tài tình, không để lộ một kẽ hở nào trong số liệu để người bình duyệt có thể đánh dấu hỏi.  Tổng biên tập tập san Lancet, Richard Horton, phải thú nhận là Sudbo quá thông minh và tinh xảo đến độ ông có thể qua mặt tất cả 13 cộng sự viên là tác giả của bài báo, lường gạt tất cả các chuyên gia trong ngành đã bình duyệt bài báo, lường gạt luôn cả một chuyên gia thống kê học cũng là người bình duyệt bài báo!  Hành động ngụy khoa học của bác sĩ Sudbo chỉ được phát hiện khi một nhà dịch tễ học người Na Uy chú ý đến đoạn văn mà Sudbo cho biết nguồn bệnh nhân mà ông nghiên cứu là trích từ một ngân hàng dữ liệu (database) về ung thư thuộc bệnh viện Radium, bởi vì trong thực tế ngân hàng dữ liệu này không hiện hữu! 

Đến nay, bác sĩ Sudbo đã thú nhận rằng ông ngụy tạo hoàn toàn các số liệu trong bài báo đó bằng máy tính. Sudbo không chú ý đến ngày tháng năm sinh vì nghĩ rằng không ai đòi hỏi xem số liệu gốc! Sudbo còn thú nhận rằng hai bài báo ông công bố trước đó trên tập san New England Journal of Medicine và Journal of Clinical Oncology cũng dựa vào số liệu do ông dựng lên.  

Gerald Schatten: vấn đề đứng tên tác giả

 

Giữa tháng 11 năm 2005, Giáo sư Gerald Schatten thuộc Đại học Pittsburgh và cũng là một cộng tác viên với nhóm của Giáo sư Hwang tuyên bố rằng ông đã chấm dứt tất cả cộng tác với Giáo sư Hwang vì ông quan tâm đến vấn đề y đức trong nghiên cứu của Giáo sư Hwang. Qua tiết lộ của Giáo sư Schatten, người ta còn biết thêm một tình tiết bất bình thường khác: đó là vấn đề tác giả. Bài báo có 25 tác giả đứng tên, trong đó có Giáo sư Schatten thuộc Đại học Pittsburgh (Mỹ). Giáo sư Schatten cho biết chẳng hiểu vì lí do gì, trước khi công bố công trình nghiên cứu, ông được Giáo sư Hwang mời cùng đứng tên đồng tác giả chính (senior co-author) của bài báo, và Giáo sư Schatten đồng ý!  Nhưng đến giữa tháng 12/2005, Giáo sư Schatten yêu cầu Science bỏ tên ông ra khỏi bài báo vì hai lí do: một, ông cảm thấy không “thoải mái” với những dữ kiện trong bài báo; và hai, ông chỉ đóng vai trò phân tích số liệu và giúp đỡ trong việc soạn thảo bài báo. 

Về phía Giáo sư Hwang, trước hàng loạt cáo buộc bất lợi như trên, thoạt đầu ông khẳng định rằng ông chẳng làm gì sai, và quyết tâm sẽ điều tra vấn đề cho đến nơi đến chốn.  Nhưng đến cuối tháng 11 và đầu tháng 12 năm 2005 (tức gần 2 năm sau khi công bố bài báo trên Science) ông thú nhận là một số ảnh trong bài báo là bản sao chứ không phải chụp từ thí nghiệm; là nhóm của ông quả có sử dụng trứng do cộng sự viên hiến, và một số trứng khác là do mua từ bệnh viện; và một số số liệu trong bảng thống kê trong bài báo là sai. Phát biểu trước báo chí Hàn Quốc, ông nói “Tôi cảm thấy rất hối tiếc phải nói ra những điều xấu hổ và tồi tệ trước công chúng. Một lần nữa, tôi thành thật xin lỗi vì đã làm cho quốc gia và thế giới quan tâm.” Ông từ chức giáo sư từ Đại học Quốc gia Seoul, từ chức giám đốc trung tâm nghiên cứu tế bào mầm, và có lẽ căng thẳng tâm thần nên bị bệnh phải vào bệnh viện chữa trị. Ngày 18/12/2005, Tổng biên tập Science là Donald Kennedy nhận được thư của Giáo sư Hwang và Giáo sư Schatten đề nghị rút lại bài báo trên Science.  Thế là công trình nghiên cứu đã đi đến một đoạn kết quá buồn, một xì-căng-đan mới nhất và lớn trong khoa học, và một vết nhơ cho khoa học.

Tác giả