Kiểm soát xã hội đối với các chuẩn mực trong hoạt động khoa học

Hiện tượng lệch chuẩn “đạo đức” đang là vấn đề nhức nhối trong khoa học ở nước ta. Việc đưa ra các chế tài nhằm hạn chế lệch chuẩn góp phần làm trong sạch môi trường hoạt động khoa học là hết sức cần thiết.

1.      Lý do nào dẫn đến sự xuất hiện những chuẩn mực
Trong các cộng đồng xã hội đang cùng chung sống trên hành tinh, cộng đồng khoa học có lẽ là một trong những cộng đồng có nhiều nét đặc thù nhất. Đó là một cộng đồng luôn hướng tới sự tìm tòi, khám phá bằng lao động trí tuệ, cũng sống bằng lao động trí tuệ và đóng góp cho nhân loại nhữg sản phẩm tinh thần bất diệt của lao động trí tuệ. Có thể nói, cộng đồng khoa học là một cộng đồng elit của xã hội. Vì vậy, cộng đồng này luôn chiếm giữ những vị trí ưu ái của nhân loại. Họ được trân trọng, được tôn vinh.
Tuy nhiên, cũng chính vì vai trò của đặc biệt này mà cộng đồng khoa học luôn gặp nhiều bi kịch:

–        Trước hết, những khám phá mới mẻ của họ luôn dẫn đến sự “phá cách” những chuẩn mực của xã hội, từ những chuẩn mực tư duy truyền thống, .. đến những phong tục, tập quán; từ những chuẩn mực pháp luật và đạo đức, .. đến những tín điều tôn giáo, và nhất là, những tư tưởng chính trị. Chính vì thế mà bên cạnh sự ưu ái của xã hội, họ luôn bị kỳ thị, thậm chí, chống đối bởi hàng loạt truyền thống xã hội, từ truyền thống văn hóa đến tôn giáo và chính trị.

–        Thứ hai, trong nội bộ cộng đồng này cũng luôn có sự phân hóa với những động cơ thôi thúc, một số người có xu hướng vượt trội lên tầng trên của elit, kéo theo ý chí nỗ lực của toàn cộng đồng; còn một số người khác thăng tiến chậm trễ hơn; một số người khác nữa thì không theo được với dòng chảy chung, bị tụt xuống hàng dưới của cộng đồng, thậm chí, bị đẩy ra ngoài nhóm elit. Trong những người “lo” bị đẩy tụt xuống hàng dưới, thậm chí bị đẩy ra ngoài nhóm elit, có những người đã tìm cách gian lận hoặc ăn cắp công trình của người khác để “đánh bóng” cho mình, hoặc để níu kéo vị trí elit đang tụt dần vào trong quên lãng.

Lịch sử khoa học đã chứng tỏ, hai hiện tượng trên đây trong xã hội nào cũng có, chỉ khác nhau về mức độ nghiêm trọng: Ở mức độ nhẹ thì người ta dè bỉu, che bai, định kiến; ở mức độ năng hơn thì người ta phê phán, lên án, thậm chí đưa lên giàn thiêu như Giáo hội đã xử với Gallileo; nặng hơn nữa thì người ta đàn áp, thậm chí bỏ tù, xử bắn cả một trường phái khoa học, gồm nhiều ngàn nhà sinh học thuộc trường phái Mendel-Morgan ở Liên Xô suốt hai thập niên 1930-1940.

Chính vì lịch sử đau buồn đó của khoa học, đã làm xuất hiện đòi hỏi phải đưa ra những chuẩn mực để vừa bảo vệ cộng đồng elit này, vừa tránh cho thành viên của cộng đồng này rơi vào những sai lệch chuẩn mực theo hướng tiêu cực. Những chuẩn mực này trước hết là cơ sở cho khung mẫu ứng xử chung của cộng đồng khoa học, nhưng cũng làm cơ sở cho việc hình thành những khung mẫu ứng xử của xã hội đối với cộng đồng khoa học.

2.      Các chuẩn mực trong hoạt động khoa học

Chuẩn mực là khái niệm của xã hội học. Đó là tập hợp những mong đợi, yêu cầu, quy tắc đối với hành vi của các thành viên trong xã hội. Chuẩn mực quy định cho mỗi thành viên những việc nào nên làm, không nên làm và cần xử sự như thế nào cho đúng trong mỗi tình huống xã hội.

Ngoài những chuẩn mực chung mang tính toàn xã hội, mỗi nhóm xã hội có những chuẩn mực riêng biệt. Cộng đồng những người làm khoa học, với tư cách là một nhóm xã hội, cũng có những chuẩn mực riêng biệt. Robert K. Merton, một nhà xã hội học người Mỹ, năm 1942 đã khái quát hoá thành bốn chuẩn mực, sau này được bổ sung thành 5 chuẩn mực như sau:

1) Chuẩn mực thứ nhất: Tính cộng đồng: Tri thức khoa học trong thời đại chúng ta là một loại sản phẩm vừa mang tính cá nhân rất cao, song lại là sự kế thừa những của nỗ lực cả một tập thể. Chuẩn mực này quy định rằng tri thức phải được chia sẻ, chứ không phải bị giữ bí mật hoặc giữ làm tài sản của riêng mình. Và vì vậy, nó phải được công bô, hoặc nói một cách hình ảnh, như cách nói của Zuckerman, đó là “biếu không” chúng cho các đồng nghiệp. Đó là biện pháp để làm cho mục tiêu của một nhóm trùng hợp với mục tiêu cá nhân; nghĩa là các nhà khoa học bị “bắt buộc” phải công bố công trình của họ.

2) Chuẩn mực thứ hai: Tính phổ biến. Chuẩn mực này xem rằng đóng góp khoa học phải được phán xét theo những tiêu chuẩn khách quan. Các thuộc tính xã hội của những người có công đóng góp, bất kể họ là ai, bất kể thuộc chính kiến nào; thuộc sắc tộc hoặc tôn giáo nào; có xuất thân giai cấp hoặc giới tính như thế nào đều không quyết định sự phán xét khoa học của họ. Chuẩn mực về tính phổ biến đòi hỏi, chỉ những khám phá đã được kiểm chứng bởi các luận cứ khoa học, có thể lặp lại trong quan sát hoặc thực nghiệm, chứ không phải là những khám phá ngẫu nhiên, tuỳ hứng, mới được xem là một kết quả khoa học.

3) Chuẩn mực thứ ba: Tính không thiên kiến. Không thiên kiến là một chuẩn mực đặc biệt thú vị trong khoa học. Mọi kết luận trong quan sát hoặc thực nghiệm khoa học cần được kiềm chế những thiên vị cá nhân, bao hàm sự kiểm soát của thiết chế đối với những động cơ làm khoa học nhằm thoả mãn nhu cầu nhận thức.

4) Chuẩn mực thứ tư: Tính độc đáo (originality). Chuẩn mực này quy định, khoa học phải có tính mới, không thể giầm chân trên những đường mòn.

5) Chuẩn mực thứ năm: Tính hoài nghi (skepticism). Chuẩn mực này được xem là “sứ mạng cả về mặt phương pháp luận và về mặt thiết chế”. Nó yêu cầu những người làm khoa học không được đưa ra kết luận vội vã, nó đòi hỏi phải “trì hoãn sự phán xét” cho đến khi có đầy đủ bằng chứng cần thiết. Chuẩn mực này đòi hỏi người làm khoa học phải biết đặt câu hỏi ngược lại với những lý thuyết khoa học đã được kiểm chứng sơ bộ bằng quan sát hoặc thực nghiệm.

Bốn chuẩn mực trên đây đã được thừa nhận rộng rãi trong cộng đồng nghiên cứu nói chung, và giới nghiên cứu xã hội học khoa học nói riêng.

3.      Các hành vi lệch chuẩn trong hoạt động khoa học

Có nhiều kiểu sai lệch chuẩn mực (gọi tắt là lệch chuẩn). Người làm khoa học có thể lệch chuẩn do vô tình hoặc cố ý, cũng có thể do trình độ của phương tiện và phương pháp nghiên cứu. Có bốn loại lệch chuẩn sau:

1) Lệch chuẩn nhận thức. Có hai ý nghĩa: (1) Loại lệch chuẩn phát sinh thiếu kiến thức, thiếu thông tin; (2) Loại lệch chuẩn xuất phát từ những nhận thức hoặc hành động khác với nhận thức được thời của khoa học, chẳng hạn, mô hình vũ trụ của Copernicus khác với mô hình vũ trụ của Ptolêmê đã được giới khoa học công nhận hồi trước thế kỷ XV.

2) Lệch chuẩn kỹ thuật. Là loại lệch chuẩn do phương pháp tiếp cận, trình độ phân tích, trình độ của phương tiện, thiết bị kỹ thuật. Dạng lệch chuẩn này cũng có hai loại: (1) Người nghiên cứu sai phạm ngẫu nhiên về phương pháp; (2) Người nghiên cứu gặp hạn chế về phương tiện và phương pháp..

3) Lệch chuẩn xã hội. Là loại lệch chuẩn do: (1) Hạn chế lịch sử trong điều kiện xã hội mà nhà nghiên cứu hoạt động. Hạn chế lịch sử dẫn đến những thiết chế khiến cho những kết luận khoa học bị sai lệch theo định kiến xã hội. Chẳng hạn, những nghiên cứu về tổ chức hệ thống kinh tế nông nghiệp trong thời kỳ kinh tế chỉ huy không được vượt khỏi quan niệm về tổ chức sản xuất nông nghiệp của giai đoạn lịch sử đó, ví dụ, không “được phép” trao đổi sản phẩm trên thị trường; (2) Lệch chuẩn xã hội cũng có thể do sức ép của các quyền lực xã hội đưa lại. Chẳng hạn, vũ trụ quan của giáo hội không cho phép truyền bá quan điểm nhật tâm của Copernic.

4) Lệch chuẩn đạo đức. Là loại lệch chuẩn cố ý, với những toan tính tranh giành tối đa những lợi thế không chính đáng trước đồng nghiệp.

Mỗi kết luận sai lệch về khoa học có thể xuất hiện chỉ do một dạng lệch chuẩn, song có những kết luận sai lệch xuất hiện là do một số dạng lệch chuẩn, chẳng hạn, vừa lệch chuẩn kỹ thuật, vừa lệch chuẩn nhận thức, và có cả lệch chuẩn đạo đức và lệch chuẩn xã hội.

Lệch chuẩn nào cũng có thể dẫn đến những thiệt hại ở các mức độ rất khác nhau, và do vậy, dạng lệch chuẩn nào cũng có mức độ có thể lượng thứ hoặc không thể lượng thứ. Chẳng hạn, chúng ta quay trở lại mô hình của Ptôlêmê về vũ trụ, với Trái Đất là trung tâm, còn mặt trời và các vì sao khác quay xung quanh Trái Đất. Sau này, khi mô hình Copernic được thừa nhận, thì mô hình Ptôlêmê bị xem là một dạng lệch chuẩn nhận thức, đồng thời cũng có thể xem là một dạng lệch chuẩn kỹ thuật. Trường hợp này, có thể xem là loại lệch chuẩn có thể lượng thứ. Nhưng sau này, đến lượt Giáo hội chống Copernic, rồi chống Galilêô, thì từ lệch chuẩn nhận thức và lệch chuẩn kỹ thuật của Ptôlêmê, đã chuyển sang lệch chuẩn xã hội của Giáo hội. Rõ ràng, lệch chuẩn nhận thức và lệch chuẩn kỹ thuật là có thể lượng thứ, còn lệch chuẩn xã hội của Giáo hội, dẫn đến đàn áp tư tưởng và đàn áp thể xác nhà khoa học lại trở nên một hành vi lệch chuẩn không thể lượng thứ.[1]

4.      Vài dạng lệch chuẩn điển hình

Điều được các nhà xã hội học khoa học quan tâm và thảo luận khá sôi động, là hai dạng lệch chuẩn điển hình: gian lận và ăn cắp. Mặc dầu có nhiều quan điểm và mức độ phán xét khác nhau về nguyên nhân và hậu quả của các dạng lệch chuẩn này, nhưng các tác giả đều thống nhất quan điểm cho rằng, cả gian lận và ăn cắp đều là những hành vi lệch chuẩn không thể lượng thứ.

Chẳng hạn, nhà miễn dịch học Peter Medawat (1976) xem các hành vi “ăn cắp và gian lận là những thứ đáng ghê tởm nhất“; nhà sinh học phân tử Salvadore Luria thì xem đó là “sự bê bối” mang “ý nghĩa  xúc phạm” (1975); còn nhà y học Robert Peteredorf thì cho đó là điều “chướng tai gai mắt” nhất (1986); đối với nhà sinh hoá Daniel Koshland thì đó là điều ‘không thể tha thứ được” (1987). Trên quan điểm của xã hội học khoa học, Zuckerman cho rằng, “gian lận và ăn cắp đã huỷ hoại niềm tin vào cộng đồng khoa học. Đó là niềm tin vốn rất chính đáng rằng, những gì mà các nhà khoa học nói, là chân lý tin cậy nhất“.

Vậy các dạng lệch chuẩn gian lận và ăn cắp cần được hiểu như thế nào?

Thứ nhất, gian lận trong hoạt động khoa học. Gian lận là sự cố ý lừa dối, thể hiện dưới ba hình thức:

(1) Giả mạo, tức là bịa đặt dữ kiện để đạt được một thành tích khoa học, nhằm giành lợi thế trong cộng đồng khoa học. Hậu quả hoàn toàn có thể đưa ra một bức tranh sai lệch về đối tượng nghiên cứu. Thật ra, người có hành vi vi phạm trong trường hợp này, không nhằm vào mục đích đưa ra bức tranh sai lệch, mà nhằm mục đích chủ yếu là giành lợi thế và những phần thưởng cho cá nhân. Với sự giả mạo này, đương sự đã làm cho cộng đồng hiểu và đánh giá sai về đương sự, rằng anh ta đã có một thành tích khoa học. Hậu quả là cộng đồng được nhận những thông tin sai lệch. Ví dụ, có một nhà địa chất, muốn chứng minh một quan điểm địa chất sai lệch của mình, đã cố ý ném một số cổ sinh vật hoá thạch vào khu vực được chọn làm đối tượng nghiên cứu, rồi đương sự đã đưa ra một báo cáo sai lệch về khu vực này.

(2) Xuyên tạc, tức làm biến dạng dữ kiện, để mô tả bức tranh khoa học theo ý muốn chủ quan của mình. Xét cả về hai phương diện, hậu quả xã hội và thực thể tri thức khoa học, loại hành vi lệch chuẩn này có thể đánh giá mức độ nghiêm trọng không kém gì hành vi giả mạo. Nếu như sự giả mạo thể hiện thái độ vô trách nhiệm trước thực thể tri thức khoa học, thì hành vi xuyên tạc thể hiện thái độ cố ý làm sai lệch khách thể theo một ý đồ không lành mạnh từ phía chủ quan của đương sự.

(3) Nhào nặn, tức “mông má” dữ kiện, nhằm vào việc tô hồng hoặc bôi đen sự kiện theo ý muốn chủ quan, thậm chí làm đảo ngược bức tranh khoa học về đối tượng nghiên cứu. Nhào nặn dữ kiện cũng dẫn tới sự huỷ hoại thực thể tri thức khoa học theo một định hướng chủ quan của đương sự.

Thứ hai, ăn cắp cũng là một hành vi cố ý lừa dối trong khoa học. Người có hành vi lệch chuẩn này mang động cơ chiếm đoạt cái mà họ không có, với tham vọng được cộng đồng thừa nhận một nấc thang khoa học mà họ hoàn toàn không xứng đáng.

Tuy cộng đồng nghiên cứu, và đặc biệt là các nhà xã hội học khoa học, thống nhất nhận thức rằng, cả hai hành vi lệch chuẩn – gian lận và ăn cắp, đều là những lệch chuẩn không thể lượng thứ, nhưng họ cũng chỉ ra rằng, ăn cắp tuy là một hành vi phi đạo đức; nhưng nó chỉ gây ra sự bất công, chứ không làm biến dạng và huỷ hoại thực thể tri thức khoa học. Còn hành vi gian lận, tuy không ăn cắp của ai, nhưng nó lại dẫn đến một hậu quả cực kỳ nghiêm trọng, là cung cấp một bức tranh sai lệch về thực thể nhận thức.

Cộng đồng khoa học cho rằng, cả hai tội này đều phải bị trừng phạt hết sức nghiêm khắc, theo Zuckerman, “cần phải trừng phạt nghiêm khắc đến mức độ phải dẫn đến phá hoại toàn bộ sự nghiệp của đương sự.”

Vi phạm quyền sở hữu trí tuệ có thể thuộc loại gian lận, và cũng có thể thuộc loại ăn cắp. Vi phạm quyền sở hữu trí tuệ ở nước ta đang là một hiện tượng nhức nhối. Thực tiễn cho thấy nhiều kiểu vi phạm:

·        Sao chép hoặc lấy toàn bộ công trình của đồng nghiệp và ghi tên mình thay vì ghi trích dẫn tên đồng nghiệp. Hành vi lệch chuẩn này chủ yếu thuộc loại ăn cắp.

·        Dịch tài liệu, thậm chí dịch sách, rồi ghi tên mình là “tác giả” hoặc “người biên soạn”, thay vì phải ghi tên tác giả của bản gốc, rồi ghi tên mình là người “dịch”, “lược dịch”, hoặc “biên dịch”, v.v… Hành vi này vừa là ăn cắp, vừa là gian lận.

·        Lấy nguyên văn hàng chương sách của đồng nghiệp để đăng báo và ký tên mình là tác giả. Hành vi lệch chuẩn này chủ yếu thuộc loại ăn cắp.

·        Lấy nguyên văn công trình đã công bố của mình ở diễn đàn này hoặc nhà xuất bản này, thay tên gọi của công trình, đôi khi có sửa một chút không quan trọng, rồi công bố ở nơi khác, để “tính điểm” số lượng công trình.

·        Một số người khi đã đạt được địa vị lãnh đạo cơ quan, thì không còn tự mình viết, mà thường gọi nhân viên viết, thậm chí viết cả một cuốn sách để mình ký tên là tác giả, còn các tác giả thực thì được nhận mấy dòng gọi là để “cảm ơn” sự … “cộng tác”.

5.      Xử lý các hành vi lệch chuẩn

Ở nước ta, tội ăn cắp tài sản trí tuệ hiện đã có những chế tài cần thiết để điều chỉnh, trước hết, đó là ba chương liên quan sở hữu trí tuệ trong Luật Dân sự (Bản quyền tác giả, Sở hữu công nghiệp và Chuyển giao công nghệ). Nhưng tội gian lận trong hoạt động khoa học và công nghệ thì hiện nay, về cơ bản, chưa có chế tài hữu hiệu để điều chỉnh, kể cả trong đạo luật vừa mới được Quốc Hội thông qua, là Luật Khoa học và Công nghệ.

Đương nhiên, nếu như hành vi ăn cắp sở hữu trí tuệ không dễ bị phát hiện và loại trừ khỏi đời sống khoa học, thì hành vi gian lận còn khó bị phát hiện và khó bị trừng trị hơn nhiều. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, vẫn có thể tìm ra những luận cứ khoa học quan trọng nhất để hình thành thiết chế phát hiện và điều chỉnh các hành vi lệch chuẩn thuộc dạng này. Luận cứ có thể bao gồm trong hai hướng:

1)      Nâng cao trình độ nhận thức và kỹ năng về phương pháp luận khoa học, nghĩa là sự thành thạo về kỹ năng của phương pháp, kể cả trong khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội. Chỉ có nhận thức thống nhất về phương pháp luận khoa học, mới có thể thống nhất được ngôn ngữ đánh giá tính đúng đắn của kết quả thu thập và chế biến dữ liệu.

2)      Có một cơ chế có hiệu quả để phân tích phản biện các kết quả nghiên cứu, giảm thiểu những mặt hạn chế của hệ thống đánh giá hiện nay: Thứ nhất, về chỉ báo, mang nặng những chỉ báo định tính, thiếu những chỉ báo chặt chẽ về phương pháp luận; Thứ hai, về phương pháp, khó tránh khỏi những đánh giá bị chi phối bởi tình cảm và thiên kiến chủ quan.

Cho đến nay ngay cả ở một số nước có nền khoa học phát triển trên thế giới cũng chưa có được một giải pháp hữu hiệu về kiểm soát xã hội đối với các hành vi lệch chuẩn. Những biện pháp được áp dụng, ngay ở những nước có truyền thống khoa học phát triển, cũng chỉ có tác dụng hạn chế trong chừng mực nào đó.

Nhà khoa học có vô tình hoặc cố ý thực hiện những hành vi lệch chuẩn hay không còn tuỳ thuộc phần lớn vào văn hoá và đạo đức của họ. Trong cộng đồng khoa học ở nước ta, hiện tượng lệch chuẩn là khá phổ biến, không loại trừ cả những người có học hàm, học vị và chức vụ cao.

Điều này có thể có cả hai nguyên nhân: thiếu các thiết chế xã hội để kiểm soát các hành vi lệch chuẩn và, mặt bằng văn hoá còn thấp trong cộng đồng khoa học nước ta. Một số bạn đồng nghiệp nghiên cứu chưa xem việc tôn trọng các chuẩn mực là sự thể hiện tính tự trọng và đạo đức khoa học.

Từ kinh nghiệm các nước có nền khoa học phát triển, từ các điều khoản đã được quy định trong Luật Dân sự của Việt Nam, chúng tôi thiết nghĩ, có thể nhấn mạnh các biện pháp sau đây:

Về mặt pháp lý, cần có những đạo luật quy định rằng, mọi kết quả nghiên cứu đều được quyền công bố hoặc không công bố dưới mọi hình thức thích hợp, như công bố thông qua các xuất bản phẩm công khai hoặc không công khai (trong trường hợp có quan hệ tới bí mật cạnh canh trong kinh doanh, hoặc có quan hệ tới quốc phòng và an ninh quốc gia).

Cũng cần coa những quy định về trích dẫn khoa học. Trong quá trình nghiên cứu về trích dẫn, chúng tôi đã có những cuộc trao đổi với một số viện trưởng, giám đốc hoặc ban biên tập một số nhà xuất bản về các quy định trích dẫn. Trong số các cơ quan mà chúng tôi có dịp đến phỏng vấn, chúng tôi chỉ mới gặp vài ba cơ quan có quy định chặt chẽ nhất về trích dẫn.

Quy định về bảo hộ sở hữu trí tuệ. Phải nói rằng, ở nước ta đã có nhiều bước phát triển trong việc nghiên cứu, công bố và thi hành các luật và văn bản dưới luật về sở hữu trí tuệ.  Tuy nhiên, việc thi hành luật chưa được thực hiện đúng với yêu cầu cần thiết cho sự phát triển khoa học, đặc biệt là việc xử lý những hiện tượng vi phạm tác quyền trong khoa học.

Hiện tượng lệch chuẩn “đạo đức” đang là vấn đề nhức nhối trong khoa học ở nước ta. Việc đưa ra các chế tài nhằm hạn chế lệch chuẩn đang là một công việc đầy nan giải, nhất là, khi một số người vi phạm các chuẩn mực lại có tước vị khoa học cao, hoặc cũng có cả một số người đang giữ chức vụ quan trọng trong các cơ quan khoa học, cơ quan quản lý khoa học và cả trong các cơ quan tham mưu của các cấp ủy Đảng về khoa học và giáo dục.

Mặc dầu vậy, khi xã hội đã lên tiếng đồng tình về tiêu chuẩn nhân cách của người làm khoa học, chắc chắn dư luận xã hội có thể ủng hộ việc đưa ra được những thiết chế ngăn chặn các hành vi lệch chuẩn, đưa hoạt động khoa học của nước ta vào đúng quỹ đạo của nó.
 
—————-
1 Năm 1972, tức 352 năm sau vụ án Gallileo, Giáo hoàng John Paul II đã cho xem xét lại vụ án này. Năm 1992, Giáo hội chính thức kết luận tính chất sai lầm của vụ án.

Vũ Cao Đàm
Tìm địa điểm Trường
Gọi trực tiếp
Chat Facebook
Chat Zalo

[flipbook id="1"]