Theo GS Từ Trung Chấn, Việt Nam đang có cơ hội tiếp cận nguồn lực đào tạo và nghiên cứu bán dẫn từ Đại học Bang Arizona, một trong những trung tâm quan trọng của ngành công nghiệp chip Mỹ, nhưng thực tế triển khai còn khá khiêm tốn.
Trong khuôn khổ Đạo luật CHIPS và Khoa học, Đại học Bang Arizona (ASU) được cấp 13,8 triệu USD để đào tạo lực nhân lực cho ngành bán dẫn - bên cạnh gần 140 triệu USD cho các hoạt động R&D về đóng gói chip tiên tiến.
Thời gian qua, ASU đã có chuỗi gặp gỡ và làm việc với nhiều thành phố, trường đại học của Việt Nam để tìm đối tác đào tạo phù hợp.
Tia Sáng có cuộc trao đổi với GS Từ Trung Chấn - thành viên hội đồng khoa học Viện IGNITE, người đồng hành cùng ASU trong giai đoạn đầu tìm kiếm đối tác ở Việt Nam - để hiểu về các cơ hội và thách thức của hợp tác này.

Nhân lực đóng gói chip: một điểm khởi đầu thực tế
- Ông có thể cho biết vì sao Việt Nam xuất hiện trong bức tranh hợp tác đào tạo nhân lực bán dẫn của ASU?
- Thời gian này Mỹ triển khai mạnh Chip Act với mục tiêu kiểm soát chuỗi cung ứng chip và tập trung vào việc làm ra con chip tại Mỹ.
ASU có vị thế đặc biệt trong hệ sinh thái bán dẫn Mỹ. Đây là một trong 6 cơ sở đào tạo "con cưng" được lựa chọn để đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt để có đủ nguồn cung kỹ sư và chuyên gia cho TSMC - công ty đang xây 6 nhà máy đúc chip [fab wafer] và hai nhà máy đóng gói tiên tiến [advanced packaging] tại Arizona. Arizona cũng là nơi đặt trụ sở Intel. Do đó họ cần các nước đáng tin cậy để tham gia, và Việt Nam là một lựa chọn để đào tạo nguồn nhân lực bán dẫn, trong bối cảnh các doanh nghiệp Mỹ tại Mỹ và chi nhánh ở Việt Nam đều đang khát nhân lực bán dẫn.
Đây là cơ hội vàng vì kinh nghiệm quốc tế cho thấy hợp tác với đối tác nước ngoài là điều bắt buộc. Trong quá khứ, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc và gần đây nhất là Trung Quốc đều phát triển ngành bán dẫn theo cùng một con đường: trước tiên, họ cử người ra nước ngoài học hỏi, đồng thời sẵn sàng trả mức lương cao để thu hút chuyên gia quốc tế. Khi đã tích lũy đủ nhân lực và kinh nghiệm, họ mới từng bước xây dựng ngành bán dẫn của riêng mình.
Tình huống bây giờ của Việt Nam cũng thế và thậm chí còn thuận lợi hơn khi chúng ta có cơ hội hợp tác với ASU để đào tạo nhân lực ngay tại Việt Nam.
Các công ty bán dẫn ở nước ngoài đang đổ bộ vào Việt Nam. Chẳng hạn, khi công ty Amkor ở Bắc Ninh nói sẽ đầu tư 1,6 tỷ USD vào nhà máy bán dẫn ở đây, họ nhấn mạnh đề nghị địa phương hỗ trợ đào tạo và giữ chân nhân lực. Hiện nay, họ cũng phải đưa những người được tuyển dụng tại Việt Nam sang Hàn Quốc đào tạo.
Trước nhu cầu chip tăng trên toàn cầu, sẽ còn nhiều công ty mở rộng sản xuất thiết kế sang Việt Nam, chúng ta sẽ còn cần nhiều kỹ sư, chuyên gia hơn nữa.

- Hợp tác với ASU hướng tới đáp ứng nhu cầu nào của ngành bán dẫn?
- Trong ngành bán dẫn vừa rộng vừa sâu này, đào tạo nguồn nhân lực là một chiến lược. Ngành này có sự phân công thế giới rất rõ ràng. Những nước phát triển sẽ làm đoạn đầu là front-end, còn những nước đang phát triển phụ trách đoạn sau là back-end.
Công đoạn front-end cần những máy móc đắt tiền, chuyên gia chuyên sâu và thời gian đào tạo lâu, nên những nước phát triển như Mỹ sẽ đào tạo loại nhân sự này ngay trên chính nước họ, trong các phòng thí nghiệm, công ty bán dẫn và hệ sinh thái của họ.
Còn công đoạn back-end, tức là phần đóng gói, lắp ráp, cần rất nhiều nhân lực với yêu cầu kỹ thuật thấp hơn, phù hợp cho những nước đang phát triển đặt nhà máy lắp ráp như Việt Nam. Nhân sự cho phân khúc này chủ yếu là trình độ kỹ sư, kỹ thuật viên.
ASU được Chính phủ Mỹ giao trọng trách phát triển chương trình bán dẫn tại Arizona, nhằm chuyển trung tâm của ngành bán dẫn Mỹ từ Thung lũng Silicon về Arizona. Các nhà nghiên cứu ở ASU nói với tôi rằng riêng phần đào tạo front-end bên họ đã mệt lắm, làm không xuể, nên muốn chuyển phần đào tạo back-end ra bên ngoài.
Để tưởng tượng quy mô đào tạo cho back-end, hãy nhớ đến nhu cầu của TSMC. Hiện nay, TSMC sản xuất khoảng hơn 1,4 triệu tấm wafer mỗi tháng, nhưng với các nhà máy mới đang mở ở Arizona, công suất có thể lên tới 3 triệu tấm. Cần một nguồn nhân lực khổng lồ để lắp ráp những con chip cắt ra từ những tấm wafer này thành những con chip hoàn chỉnh, đưa ra thị trường.
Công ty Terafab của Elon Musk cũng có nhu cầu lớn cho việc sản xuất chip AI cho trung tâm dữ liệu, xe tự hành và robot. Bây giờ, họ mới bắt đầu xây Terafab số 1 với công suất tối đa lên tới 1 triệu tấm wafer mỗi tháng. Khi xong Terafab số 2, tổng công suất có thể lên tới 2 triệu tấm.
Như vậy, trên thị trường Mỹ đã có nhu cầu nhân lực kỹ thuật cho ít nhất 5 triệu tấm wafer mỗi tháng từ nay đến năm 2030, chưa kể các nhà máy lắp ráp khác ở khắp châu Á và nhiều nơi trên thế giới.
Vì ASU có mối quan hệ tốt với TSMC, nên gần như nhân lực đáp ứng tiêu chuẩn đào tạo của ASU sẽ có khả năng được TSMC tuyển dụng. Bằng cấp của ASU có hiệu lực trên toàn cầu, bởi vậy nếu được đào tạo trong chương trình hợp tác với ASU thì các kỹ sư Việt Nam không chỉ có khả năng làm việc ở trong nước mà còn có thể luân chuyển sang Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc, Malaysia...

- Có một băn khoăn là nếu Việt Nam chủ yếu đào tạo bắt đầu từ khâu back-end, liệu chúng ta có nguy cơ chỉ đảm nhận những công đoạn có giá trị gia tăng thấp, phụ thuộc vào công nghệ của nước ngoài và khó tiến lên các khâu chuyên sâu hơn như thiết kế, chế tạo ở front-end?
- Không, không phải. Trong 7 chương trình đào tạo mà ASU muốn triển khai với đối tác này, có một chương trình đào tạo giảng viên nguồn. Nghĩa là chúng ta có cơ hội đưa người học sang ASU để tiếp cận, những nội dung chuyên sâu của họ, tham gia vào những dự án đang có của ASU, đề xuất các hợp tác nghiên cứu, dùng chung phòng thí nghiệm bán dẫn, thậm chí cùng hướng dẫn đào tạo tiến sĩ luôn.
Còn mình nhắm tới phần back-end là vì nó phù hợp với môi trường hiện tại ở Việt Nam vào thời điểm này. Nhưng sau khi xây được đà phát triển, chúng ta có thể hướng tới phần front-end.

'Thực tế hợp tác còn khiêm tốn'
- Từ đầu năm 2026 đến nay, dường như ASU đã đến thăm khá nhiều trường đại học lớn nhỏ ở Việt Nam. Tiến trình tìm kiếm đối tác ở Việt Nam có tiến triển thuận lợi không?
- Phải thú thực là khá chậm! Đã hơn 10 tháng trôi qua nhưng thực tế triển khai ở Việt Nam vẫn còn khiêm tốn. Tôi tham gia một số đoàn cùng ASU để đi gặp các trường đại học mà chúng ta đặt kỳ vọng - từ nhóm Đại học Quốc gia, Đại học Bách khoa, đại học vùng, cho đến các đại học tư nhân và những viện đào tạo khác - nhưng dường như ASU chưa tìm được đối tác đúng nghĩa.
Một phần nguyên nhân có lẽ nằm ở sự khác biệt về cách vận hành. Các trường đại học Mỹ có quy trình pháp lý, tiêu chuẩn và cơ chế phê duyệt riêng. Phía Việt Nam cũng có những tiêu chuẩn, quy định và thủ tục hành chính riêng. Nếu hai bên không tìm được mô hình phù hợp, quá trình thương lượng sẽ kéo dài. Nhưng theo tôi, điều quan trọng nhất vẫn là quyết tâm thực hiện. Những thiếu hụt về chuyên môn và thủ tục hành chính đều là những vấn đề có thể giải quyết. Nhưng khi không đủ quyết tâm, chúng ta khó có được sự quyết liệt và tinh thần dấn thân.
Cho đến nay, ASU mới chỉ ký được một hợp tác với Trường Đại học Lạc Hồng ở Đồng Nai, và đây cũng chỉ là một chương trình đơn giản. ASU chỉ chuyển giao phần giáo trình rồi giúp đỡ giảng dạy thôi, chứ chưa phải cái gọi là hợp tác toàn diện. Trong khi về phía ASU, họ muốn triển khai 7 chương trình đào tạo với đối tác, từ chương trình K1-K12 mà chúng ta gọi là STEM hướng nghiệp; chương trình đào tạo giảng viên nguồn; đào tạo song bằng, đào tạo theo tín chỉ; đào tạo ngắn ngày; đào tạo từ xa; cho đến cao nhất là mở mới trường đại học. Trong đó ASU muốn đóng góp chương trình đào tạo, đảm bảo uy tín học thuật, giảng viên, cũng như cấp bằng (tùy hình thức đào tạo cụ thể).
Hợp tác này cũng không hẳn nằm trong khuôn khổ nhiệm vụ của Chip Acts, mà là các hoạt động hỗ trợ phát triển thường niên mà Chính phủ Mỹ dành cho các nước đang phát triển.
ASU cũng đã ký một biên bản ghi nhớ 5 năm với TP. Hà Nội nhằm thúc đẩy đào tạo, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong khuôn khổ này, ASU đã có các cuộc trao đổi với một số cơ sở giáo dục như Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội, Trường Đại học Thủ đô Hà Nội để tìm hiểu nhu cầu, đồng thời nghiên cứu khả năng xây dựng các mô hình giáo dục tiên tiến. Tuy nhiên, tôi nghĩ đây sẽ là một quá trình lâu dài, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên để cụ thể hóa những định hướng hợp tác thành các chương trình thiết thực, phù hợp với nhu cầu và điều kiện của Hà Nội.
- Nếu không tìm được đối tác phù hợp ở Việt Nam thì ASU có mở rộng tìm kiếm sang các quốc gia Đông Nam Á khác không?
- Có chứ! Nếu Việt Nam không làm được, họ sẽ buộc phải tìm một phương án tiếp theo. Dĩ nhiên Việt Nam đang được ưu tiên hơn, vì nhiều nhà máy FDI đang đặt tại đây - từ Intel, Amkor tới gần 100 công ty bán dẫn khác có nhu cầu về nhân lực.

- Liệu đào tạo nhân lực có đủ để tạo ra một vị thế công nghiệp mới cho Việt Nam?
- Chắc chắn là như vậy! Nếu muốn kinh tế phát triển, Việt Nam cần đầu tư vào những ngành công nghiệp cao như bán dẫn. Kinh nghiệm từ Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc và Trung Quốc cho thấy để làm được như vậy, trước hết phải có nguồn nhân lực.
Bản thân việc đào tạo nhân lực có thể tạo ra một ngành kinh tế mới cho Việt Nam, đó là xuất khẩu tri thức cho các nước có nhu cầu.
Một lợi ích nữa là khi có nguồn nhân lực chất lượng cao và hệ sinh thái công nghiệp đủ mạnh, các tập đoàn đa quốc gia sẽ có thêm động lực đầu tư vào Việt Nam.
Nói chung, xây dựng ngành công nghiệp sẽ như quả cầu tuyết càng lăn càng to, và quả cầu khởi đi từ con người.
Bây giờ là lúc "now or never". Nếu lúc này, Việt Nam không quyết tâm làm và không làm tốt thì có lẽ mình sẽ không còn cơ hội tham gia, đuổi kịp sự phát triển của công nghiệp bán dẫn thế giới nữa. Vì nền công nghiệp này phát triển nhanh lắm. Mình chạy chậm, không bắt kịp thì có nghĩa là mình sẽ mãi bị tụt hậu và đào thải phía sau. Ngay cả ASU cũng sẽ không chờ chúng ta mãi. Họ có thể trao cơ hội cho một ai khác sẵn lòng hơn!
Cảm ơn ông đã chia sẻ!