VnExpress Thứ bảy, 11/4/2026
Thứ bảy, 11/4/2026, 07:11 (GMT+7)

Kẻ thù vô hình từ trang trại đến bàn ăn

Mỹ Hạnh

Cuộc chiến chống lại vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh sẽ thất bại nếu chỉ tập trung vào hệ thống y tế vì kẻ thù được con người tự tay "bồi dưỡng" trong các trang trại và ẩn trong mỗi bữa chúng ta ăn hằng ngày.

Năm 2025, khi khám sàng lọc tại một viện nhi ở Thái Bình, các nhà khoa học rất ngạc nhiên khi phát hiện nhiều trẻ nhập viện đã mang vi khuẩn "nhờn" carbapenem - nhóm kháng sinh chỉ được dùng khi không còn lựa chọn nào khác. Điều đó đồng nghĩa với việc nếu nhiễm bệnh nặng, các em có thể không còn lựa chọn điều trị hiệu quả.

Vì sao? Chẳng nhẽ tất cả các em đã từng phải dùng tới nhóm kháng sinh mạnh nhất này nên mới có vi khuẩn kháng thuốc?

Để hiểu căn nguyên, nhóm nghiên cứu tìm đến nhà từng bệnh nhi, đến chuồng trại chăn nuôi của gia đình các em để lấy mẫu, PGS. TS Trương Đình Bảo - trường Đại Học Nông Lâm TP HCM, người tham gia nghiên cứu này kể lại. Gần 1/4 mẫu chất thải chăn nuôi từ gia đình các em và các hộ chăn nuôi xung quanh có vi khuẩn E. coli gây tiêu chảy và K. pneumoniae (vi khuẩn ở trong đường ruột, có thể gây nhiễm trùng nặng), kháng nhóm carbapenem, thậm chí hơn 80% kháng với một hoặc đồng thời nhiều kháng sinh thuộc nhóm mạnh nhất này.

Chưa kể, các vi khuẩn còn đồng thời mang nhiều gene kháng các nhóm kháng sinh thế hệ mới điều trị viêm tai, viêm phổi như cephalosporin, nhiễm trùng máu như colistin, và loại mạnh nhất - carbapenem. Kháng đồng thời nhiều loại thuốc là một tín hiệu nguy hiểm. "Cho thấy nguy cơ lan truyền giữa vật nuôi, môi trường và con người rất cao, đặc biệt là các khu vực có mật độ chăn nuôi cao và quản lý chất thải còn hạn chế", nhóm nghiên cứu viết trong báo cáo tại Hội nghị KH&CN Chăn nuôi và Thú y toàn quốc lần thứ nhất ngày 27-28/3 vừa qua.

Nhưng tại sao những trang trại chăn nuôi lợn, gà, những bể nước thải lại có vi khuẩn mang gene kháng lại các loại kháng sinh chỉ dành cho người? Và, bằng cách nào sau đó lại lan sang các em nhỏ?

Kiểm tra lợn mắc dịch tả châu Phi năm 2019. Ảnh: Lê Văn Phan.

Muốn tìm được giải pháp, cần "truy vết" đường đi của vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh. Vì kháng kháng sinh từ chăn nuôi có thể đi vào cơ thể người theo hai con đường, hoặc chúng ta vô tình "uống thuốc" kháng sinh liều thấp khi ăn thịt cá tích lũy kháng sinh, hoặc tiếp xúc trực tiếp với vi khuẩn và gene kháng thuốc từ động vật và môi trường.

Đường đi của vi khuẩn kháng thuốc từ động vật sang người

Trường hợp tại Thái Bình mới chỉ là một ví dụ đơn cử. Chưa có số liệu khảo sát trong cả nước, nhưng rất nhiều nghiên cứu cho thấy dư lượng kháng sinh, vi khuẩn kháng thuốc phổ biến trong chăn nuôi, mức độ kháng rất cao, lan rộng toàn chuỗi và nhìn thấy rõ ràng đường đi của vi khuẩn kháng thuốc từ trang trại sang người. Các nghiên cứu ở nhiều quy mô lớn nhỏ, trong đó có cả những khảo sát đến hơn 1000 trang trại chăn nuôi, ở nhiều tỉnh thành.

E. coli và Salmonella - những vi khuẩn gây ngộ độc thực phẩm và nhiễm trùng đường ruột nghiêm trọng - phân lập từ trang trại có tỷ lệ kháng rất cao với các loại kháng sinh thông dụng. Đã có nghiên cứu ở Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy hơn 80% vi khuẩn E. coli từ các trại lợn và gia cầm kháng Ampicillin và Tetracycline, hai loại kháng sinh phổ rộng, chữa viêm họng viêm tai thông thường cho đến điều trị nhiễm trùng nặng. 86,7% vi khuẩn E. coli ở lợn và khoảng 67-73% ở gia cầm là vi khuẩn đa kháng (kháng từ 3 nhóm kháng sinh trở lên). Ở một số nơi, các nhà nghiên cứu cũng ghi nhận tỷ lệ vi khuẩn Campylobacter thường gây tiêu chảy kháng lên đến 100% với các kháng sinh quan trọng thường dùng trị nhiễm trùng ở người (các loại thuốc phổ biến như erythromycin, sulfamethoxazole-trimethoprim, fluoroquinolones và tetracyclines).

Tương tự với tôm và cá, đã có nghiên cứu trên các trại nuôi cá tại miền Bắc cho thấy 100% các chủng vi khuẩn đều là vi khuẩn đa kháng thuốc, có khả năng kháng từ 2 đến 10 loại kháng sinh cùng lúc.

Xu hướng này không chỉ xuất hiện ở gia cầm và lợn mà còn ở thủy sản, cho thấy kháng kháng sinh đang lan rộng ra toàn chuỗi sản xuất thực phẩm.

Và tình trạng này dường như đang ngày càng tệ đi. Một nghiên cứu tổng hợp về vi khuẩn Salmonella không gây sốt thương hàn (NTS) cho thấy tỷ lệ kháng thuốc đã tăng mạnh trong hai thập kỷ qua.

Nếu các vi khuẩn kháng thuốc này chưa lây sang người thì mức độ rủi ro vẫn còn giới hạn. Nhưng đáng tiếc, có những chỉ dấu cho thấy rõ ràng đường đi của vi khuẩn từ trang trại sang người.

Gene mcr-1, một đoạn vật chất di truyền giúp vi khuẩn chống lại kháng sinh Colistin là "chỉ dấu" phổ biến nhất được tìm thấy trong nhiều nghiên cứu trên lợn, gà, thực phẩm và cả phân người khỏe mạnh. "Colistin rất hiếm khi được sử dụng trong bệnh viện, nên tình trạng kháng colistin trong cộng đồng nhiều khả năng xuất phát từ sự lây truyền từ chăn nuôi", PGS.TS Sonia Lewycka - Nhà dịch tễ học cao cấp, Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford Hà Nội - nói. Điều này cho thấy dòng chảy kháng thuốc đang đi từ chăn nuôi sang con người chứ không phải ngược lại.

Chưa kể đến tình trạng một chủng vi khuẩn mang đồng thời nhiều gene kháng thuốc mcr-1, blaTEM và blaNDM - cho thấy đa kháng thuốc đang trở nên cực kỳ phức tạp trong môi trường chăn nuôi và cộng đồng.

Trước đó, năm 2024, TS. Sonia Lewycka từng kể về một nghiên cứu do OUCRU thực hiện đã khảo sát 1160 trang trại chăn nuôi ở Nam Định, một trong những thủ phủ nuôi gà, lợn ở miền Bắc. Họ phát hiện ra 55% vật nuôi chứa vi khuẩn gram âm sinh beta-lactamase phổ rộng (ESBLs) có thể kháng lại nhiều thuốc kháng sinh phổ biến. Cũng trong nghiên cứu này, OUCRU đã khảo sát thêm tình trạng kháng kháng sinh ở trẻ em dưới năm tuổi thuộc 2.600 hộ gia đình. Kết quả cũng không khả quan bởi 80% em nhiễm ESBL, 63% có vi khuẩn kháng colistin đường ruột.

Tuy không chỉ Việt Nam có tình trạng này nhưng so với các nước lân cận, tỷ lệ kháng ở Việt Nam cao hơn hẳn. Chẳng hạn, tỷ lệ E. coli và K. pneumoniae kháng carbapenem trong môi trường chăn nuôi ở Trung Quốc và Thái Lan thấp hơn đáng kể, lần lượt là 2-10% và dưới 5%.

Dùng "thuốc úm"

Nguyên nhân gây tỷ lệ kháng kháng sinh cao xuất phát từ thói quen sử dụng kháng sinh như một "phản xạ" dùng "thuốc úm" - tức là uống phòng bệnh hơn chữa bệnh, hoặc nhầm lẫn "phòng bệnh" nhưng vẫn nghĩ đó là "chữa trị".

Lợn con trong một trang trại. Ảnh: Shutterstock

"Lúc lợn con cai sữa thường bị thiếu dinh dưỡng nên dễ nhiễm bệnh, mình bổ sung men, điện giải và một chút kháng sinh. Đó là điều trị bệnh chứ không phải phòng bệnh", chị Hiền* - một hộ chăn nuôi ở Ninh Binh có đàn lợn 500 con cho biết.

Khi thấy triệu chứng ho, tiêu chảy hoặc khớp sưng trên lợn, chị sẽ gọi điện cho đại lý mang kháng sinh vào trang trại. "Mình làm lâu rồi thì cũng phải tự học nhiều và cũng có kinh nghiệm", chị nói. "Dấu hiệu là khi 10 con ăn hết cám mà ngày mai không hết là nó ốm rồi. Con lợn không biết nói nhưng nó thể hiện qua cách ăn. Nếu lợn bị phổi thì dùng dòng 'Cloroxy', nếu mưa ẩm tiêu chảy thì dùng Tiamolin, rồi kết hợp điện giải".

Đây cũng là cách mà nhiều hộ chăn nuôi vẫn thường làm. Một nghiên cứu năm 2021 của Viện Thú y quốc gia (nay là Viện Chăn nuôi và Thú y Việt Nam) ở 1080 trang trại trong cả nước cho thấy, 98,1% hộ nuôi lợn và 87,9% hộ nuôi gà dùng kháng sinh trong chăn nuôi, chủ yếu để điều trị nhưng để phòng bệnh vẫn rất phổ biến, đặc biệt là ở gà (37,8%) sau đó đến lợn (18,3%). Có nghiên cứu cho thấy, 2/3 hộ chăn nuôi bắt đầu điều trị ngay khi vật nuôi có dấu hiệu bệnh đầu tiên mà không qua chẩn đoán để tránh rủi ro lan bệnh, mất đàn.

Nhiều hộ chăn nuôi thậm chí đã mua kháng sinh dành cho người để điều trị cho gia súc, gia cầm. Một nghiên cứu năm 2024 cho thấy khoảng 35,1% người nuôi gà tại Thái Nguyên thừa nhận thường xuyên hoặc thỉnh thoảng sử dụng thuốc dành cho người để chữa bệnh khi gà bị ốm.

"Một số người chăn nuôi còn nghĩ rằng, nếu sử dụng kháng sinh đang sử dụng trên người cho con vật thì an toàn hơn và cũng không ảnh hưởng gì tới sức khỏe so với việc sử dụng kháng sinh cho vật nuôi", PGS. TS Trương Đình Bảo nói.

Vẫn có tình trạng không tuân thủ thời gian bán rã của thuốc (thường 7-20 ngày) mà đem bán vật nuôi ngay khi vẫn còn tồn dư kháng sinh trong cơ thể. Thậm chí có nghiên cứu lấy mẫu ngẫu nhiên thịt gà sống từ chợ, lò mổ và trang trại tại Bắc Giang và Thái Nguyên đã phát hiện bảy loại kháng sinh thuộc bốn nhóm khác nhau (tetracycline, sulphonamides, macrolides và fluoroquinolone). Có trang trại có mẫu chứa lượng kháng sinh vượt mức cho phép từ 0,5 đến hơn 10 lần so với giới hạn dư lượng tối đa (MRL) được quy định, dù họ tuyên bố không sử dụng kháng sinh.

Một trang trại gà. Ảnh: Đức Hùng/VnExpress

Lượng kháng sinh tồn dư trong thịt có thể khiến người tiêu dùng vô tình "uống thuốc" qua thực phẩm ăn vào mà không biết, khiến các loại vi khuẩn trong cơ thể được tiếp xúc với kháng sinh liều thấp và dần hình thành khả năng kháng thuốc.

Ngay cả khi không chủ định sử dụng "thuốc úm", nhiều khi người chăn nuôi vẫn vô tình thúc đẩy vi khuẩn kháng thuốc do sử dụng thức ăn chăn nuôi có trộn kháng sinh hoặc sử dụng thuốc có chất lượng kém. Có nghiên cứu năm 2025 cũng ghi nhận tình trạng thuốc thú y không đạt chuẩn, với hàm lượng hoạt chất thực tế thấp hơn 70% so với công bố trên nhãn - theo chia sẻ của một nhân viên thú y với các nhà nghiên cứu. Điều này dẫn đến tình trạng thuốc điều trị không hiệu quả khiến nông dân phải tự ý tăng liều gấp đôi, tạo áp lực chọn lọc khiến vi khuẩn kháng thuốc nhanh hơn.

"Việc sử dụng kháng sinh dù đúng liều, quá liều hay sai liều đều tạo ra áp lực buộc vi khuẩn phải biến đổi để tồn tại; tuy nhiên, sử dụng quá liều hay sai liều sẽ làm quá trình biến đổi để tồn tại diễn ra nhanh hơn", PGS.TS Trương Đình Bảo cho biết. Ngay cả khi không sử dụng kháng sinh mạnh trong chăn nuôi, vi khuẩn vẫn có thể mang gene kháng do trao đổi di truyền qua plasmid - có khả năng di chuyển trực tiếp giữa các loài vi khuẩn khác nhau, khiến vi khuẩn gây bệnh ở người dễ dàng tiếp nhận gene kháng từ vi khuẩn trên động vật.

"Khi gene kháng thuốc từ chăn nuôi lây sang vi khuẩn gây bệnh ở người thì việc điều trị lâm sàng có thể trở nên rất khó khăn", TS. Văn Thị Thu Hảo, Khoa Sinh học, Đại học RMIT cảnh báo.

Nhưng các trang trại chỉ nhìn thấy rủi ro của mình mà không thấy rủi ro của xã hội.

Vấn đề từ cấu trúc sản xuất

3.838 tấn kháng sinh được sử dụng ở Việt Nam mỗi năm, với hơn 70% (2.751 tấn) được dùng trong chăn nuôi và gần 30% (1.086 tấn) dùng cho con người. Số lượng này tương đương lượng kháng sinh 261.7 mg/kg được sử dụng trên người và 247.3 mg/kg được sử dụng trên vật nuôi, cao hơn 1,5-2 lần con số 122.0 mg and 151.5 mg của Liên Minh Châu Âu. Các báo cáo và mô hình toàn cầu gần đây cho thấy nhu cầu sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi tại các nước như Việt Nam vẫn ở mức cao và khó giảm nhanh trong ngắn hạn.

Biết rằng kháng sinh là nguy cơ cho con người và cộng đồng, vậy vì sao người chăn nuôi vẫn dùng kháng sinh vượt mức cần thiết?

"Chăn nuôi luôn đi kèm rủi ro. Các khoản đầu tư vào con giống, thức ăn và cơ sở hạ tầng có thể mất trắng nếu vật nuôi bị bệnh và chết", PGS.TS Sonia Lewycka nói.

"Chăn nuôi gà thương phẩm quy mô nhỏ: Một nghề mạo hiểm đối với nông dân Đồng bằng sông Cửu Long" là tiêu đề của một nghiên cứu vào năm 2021. Và đúng như tiêu đề, kết quả nghiên cứu cho thấy chăn nuôi quy mô nhỏ thường không mang lại thu nhập ổn định và có tỷ lệ thua lỗ cao khi khoảng 40,9% đến 51% số đàn gà được khảo sát không mang lại lợi nhuận cho người nuôi.

Trong chăn nuôi, "giá cả là vấn đề với bất cứ loại thịt nào", chị Hiền nói. Giá sản phẩm chăn nuôi như thịt lợn, gà thường xuyên biến động mạnh - các nghiên cứu chỉ ra, có khi lên đến 40% - 50% trong thời gian ngắn. Theo chị Hiền, giá thành sản xuất lợn hiện nay khoảng 50.000đ/kg và lợi nhuận phụ thuộc hoàn toàn vào "tỷ lệ hao hụt". "Nếu tỷ lệ chết trong đàn ở mức 10-20% là người nuôi mất hết công sức, thậm chí phải dành 50% số tiền lãi từ những lứa trước để bù lỗ cho lứa bị dịch. Giá bán còn phụ thuộc vào tiêu chuẩn "thành móc" (tỷ lệ thịt xẻ), lợn đạt cân nặng khoảng 1,2 tạ và không quá mỡ mới được thương lái thu mua với giá cao nhất".

Các xe chở lợn dừng lại để tắm lợn, cảnh thường thấy trên các quốc lộ. Ảnh: Shutterstock.

Trong lúc kể câu chuyện này, đàn lợn nhà chị cũng dính đợt dịch tả lợn châu Phi lần thứ 4 trong 7 năm qua, chị phải tiêu hủy 12 tấn lợn hơi, mất đi 2/3 số vốn. "Nếu không có tích lũy trước đó, mình có thể phá sản. Hai, ba đợt như thế là mất nhà luôn". Dù bấp bênh và rủi ro cực lớn thế nhưng nhiều người vẫn phải bám trụ vì đã đầu tư hàng tỷ vào hệ thống chuồng trại và xử lý chất thải. "Ở tuổi trung niên thế này, muốn đổi nghề cũng khó lắm", chị Hiền nói. "Tôi không muốn con cái mình bước theo con đường rủi ro như thế này".

Do tổng chi phí kháng sinh trong cả một vòng đời chăn nuôi thường rất nhỏ, chỉ khoảng 1,9% ở gà và dưới 2% ở lợn nên kháng sinh đã trở thành "bảo hiểm giá rẻ" cho nhiều người chăn nuôi. "Có một sự thật không thể chối cãi rút ra từ kinh nghiệm và các nghiên cứu là không có giải pháp nào có thể thay thế kháng sinh về mặt chi phí hiệu quả", PGS.TS Trương Đình Bảo thẳng thắn nói.

Thêm vào đó, cấu trúc trang trại lớn xen lẫn các hộ nuôi nhỏ lẻ trong khu dân cư - điểm đặc thù trong hệ thống chăn nuôi ở Việt Nam - cũng khiến việc kiểm soát an toàn sinh học không dễ dàng. "Nếu các nhà xung quanh mà bị bệnh, dù mình có làm thế nào thì trại của mình cũng rất dễ bị", chị Hiền nói.

Hệ quả là, các nghiên cứu gần đây cho thấy vi khuẩn kháng thuốc không chỉ ở các trại chăn nuôi mà có cả trong thịt bán lẻ. Một nghiên cứu năm 2025 phát hiện khoảng một nửa mẫu thịt lợn và gà bán trên thị trường mang gene kháng kháng sinh phổ rộng. Các chủng E. coli mang gene kháng thuốc cũng được phân lập trực tiếp từ các mẫu thịt bán lẻ. Trong các nghiên cứu, khái niệm ‘thịt bán lẻ’ bao gồm cả thịt tại siêu thị và cửa hàng thực phẩm, cho thấy kháng kháng sinh không phải là vấn đề của riêng chợ truyền thống.

Thịt lợn ở một khu chợ tại TP HCM. Ảnh: Quỳnh Trần/VnExpress

Đạo đức và động lực kinh tế

Dùng kháng sinh có trách nhiệm bị coi là mâu thuẫn với động lực kinh tế. Điều này không chỉ diễn ra ở trang trại mà còn ở cả các đại lý thuốc thú y.

70% người chăn nuôi gà tìm đến các cửa hàng thuốc thú y để xin tư vấn thay vì hỏi cán bộ thú y địa phương (24,8%) hoặc bác sĩ thú y tư nhân (15,4%). Trong nhiều trường hợp, người bán thuốc sẽ chẩn đoán bệnh dựa trên mô tả triệu chứng của nông dân hoặc qua việc mổ khám. Các đại lý thường cho nông dân "mua chịu"/vay nợ để mua thuốc và thức ăn chăn nuôi. Tình thế này đã ra tạo nên mối ràng buộc kinh tế chặt chẽ giữa hai bên và tăng cả sự phụ thuộc của nông dân vào tư vấn của người bán.

Mặc dù đa số có trình độ chuyên môn - có bằng trung cấp, cao đẳng hoặc đại học thú y, nhưng khoảng một nửa người bán thuốc thừa nhận họ vẫn khuyến nghị nông dân dùng "thuốc úm". Người bán có xu hướng kê các loại kháng sinh phổ rộng hoặc các nhóm kháng sinh cực kỳ mạnh cho người để thấy có hiệu quả ngay.

Một trang trại lợn gần trắng đàn vì dịch bệnh. Ảnh: NVCC

Một góc khuất khác là có tới 30% đến 50% cửa hàng thuốc tại một số khu vực do nhân viên hoặc nhân viên cũ của các cơ quan quản lý thú y địa phương sở hữu - một mối quan hệ đương nhiên sẽ gây khó khăn cho việc thực thi nghiêm ngặt các quy định. Nhiều người bán thuốc cũng e ngại rằng nếu họ tuân thủ nghiêm ngặt việc bán thuốc theo đơn, khách hàng sẽ chuyển sang các cửa hàng khác dễ dãi hơn. Chưa nói đến, các cơ quan chức năng như Chi cục Chăn nuôi và Thú y cũng thường thiếu nhân lực và nguồn lực để kiểm tra, giám sát toàn bộ mạng lưới đại lý dày đặc với hơn 15.000 cửa hàng trên cả nước.

Tất cả các yếu tố cộng hưởng lại khiến cho thời gian vi khuẩn phát triển khả năng kháng thuốc ngày càng rút ngắn lại. "Những loại kháng sinh đời đầu mất khoảng vài chục năm mới hình thành đề kháng thì hiện nay, chỉ một thời gian ngắn sau khi đưa kháng sinh mới ra thì đã bị kháng lại rồi", PGS. TS Trương Đình Bảo cho biết.

Giới hạn nồng độ kháng sinh trong nước thải chăn nuôi?

Trong khi kho dự trữ kháng kháng sinh từ những miếng thịt đã đủ nguy hiểm thì môi trường chăn nuôi và cộng đồng đóng vai trò "bể chứa" và "trạm trung chuyển", giúp gene kháng thuốc di chuyển giữa các loài vi khuẩn và giữa các hệ sinh thái.

Đơn cử, một nghiên cứu trên tại Hà Nam (nay là Ninh Binh) cho thấy vi khuẩn kháng thuốc tồn tại trong phân và nước thải chăn nuôi được xả thẳng ra môi trường với khoảng 11% trại lợn tống trực tiếp ra cống rãnh, tạo ra nguồn lưu cữu gene kháng thuốc, lây lan chéo sang những vật nuôi khác dù chúng không trực tiếp dùng thuốc. Kháng sinh Sulfonamides dùng để trị nhiều loại nhiễm trùng cũng được phát hiện trong 22,9% mẫu nước thải hộ gia đình và trong cả ruộng lúa. Kể cả các hầm biogas phổ biến hiện nay cũng không tiêu diệt hết mầm bệnh, dẫn đến việc vi khuẩn đa kháng vẫn phát tán ra sông ngòi và nguồn nước tưới tiêu.

Thậm chí, ngay cả những đô thị, vốn được kiểm soát chặt chẽ về xả thải, như Hà Nội, cũng tìm thấy mẫu gene kháng kháng sinh trên sông ngòi, mới đây nhất là phát hiện trên lưu vực sông Nhuệ - Đáy.

"Hiện nay, Việt Nam đã có các quy chuẩn về xử lý nước thải y tế và quản lý rác thải nguy hại, nhưng các quy định về giới hạn nồng độ kháng sinh trong nước thải vẫn còn hạn chế", TS. Nguyễn Trung Kiên - cán bộ quản lý chương trình tại Viện Dị ứng và Bệnh nhiễm trùng Quốc gia Mỹ (NIAID) nhận định. Hiện nay chúng ta chưa có chỉ tiêu đánh giá, kiểm soát dư lượng kháng sinh và gene kháng thuốc trong nước thải chăn nuôi. Trong khi đó, dư lượng kháng sinh cao trong thực phẩm và nước thải hay phân từ bệnh viện, trại nuôi thúc đẩy sự chọn lọc và lan truyền của các chủng kháng và gene kháng thuốc trong cơ thể người, động vât và môi trường (như nước, đất, bùn lắng).

Chất thải chăn nuôi có thể là một nguồn lưu cữu vi khuẩn kháng kháng sinh. Ảnh: Shutterstock

Quay lại trường hợp phát hiện vi khuẩn kháng carbapenem ở Thái Bình, các phân tích sâu hơn cho thấy, hóa ra các chủng đề kháng này đã tồn tại sẵn trong môi trường sống, và thông qua quá trình tiếp xúc với người nhà, hoặc sử dụng kháng sinh ở trên người đã ảnh hưởng ngược lại vật nuôi rồi lưu cữu lâu dài trong môi trường và chất thải, chứ không phải chỉ do việc sử dụng kháng sinh trực tiếp trong chăn nuôi mới tạo ra.

"Vô hình trung, các chủng đề kháng này lan tràn trong môi trường và xâm nhập từ vật nuôi sang con người hoặc ngược lại", PGS. TS Trương Đình Bảo giải thích. "Vi khuẩn trong môi trường chăn nuôi có thể thông qua việc tiếp xúc với người chăm sóc để di chuyển lên cơ thể người, rồi có thể xâm nhập qua hít thở hoặc ăn uống nếu người chăn nuôi không tắm rửa, không rửa tay sạch sẽ sau quá trình làm việc".

Giải pháp thay thế và bài toán kinh tế

Để loại bỏ sử dụng kháng sinh 100% thì chắc là không, nhưng nhiều chuyên gia cùng đồng thuận rằng, an toàn sinh học là một chiến lược quan trọng để giảm nguy cơ nhiễm bệnh từ đó giảm kháng sinh. "An toàn sinh học bao gồm các biện pháp vệ sinh nghiêm ngặt, cách ly, kiểm soát ra vào để ngăn mầm bệnh xâm nhập và lây lan, cũng như quản lý chất thải và kiểm soát côn trùng, động vật gây hại cho đến tiêm phòng. Ngoài ra, có thể thay thế bằng vi sinh, vitamin và tinh dầu để tăng cường miễn dịch và cải thiện sức khỏe vật nuôi", theo PGS.TS Sonia Lewycka.

Các nghiên cứu cho thấy, chỉ cần thay đổi những điều đơn giản như cho lợn uống nước sạch có thể giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tới năm lần; cách ly lợn khi đưa về từ chợ hoặc các trại nuôi khác có thể giúp giảm nguy cơ lây nhiễm tới sáu lần; và rửa tay và vệ sinh ủng trước khi vào khu chuồng nuôi giúp giảm nguy cơ lây nhiễm tới mười lần.

Tuy nhiên thay đổi hành vi không dễ. Một nghiên cứu đánh giá khía cạnh kinh tế của các biện pháp can thiệp giảm sử dụng kháng sinh cho thấy, nhiều hộ cho biết tốn nhiều thời gian làm việc, đầu tư chi phí nhưng thu nhập vẫn không thay đổi do thương lái không mua vật nuôi được nuôi an toàn với giá cao hơn và chỉ mua với giá thị trường.

Trang trại nuôi gà công nghiệp ở Đồng Nai. Ảnh: Phước Tuấn/VnExpress

Trong khi đó, thức ăn chăn nuôi chiếm tỷ trọng cao nhất (72,3%), còn chi phí cho kháng sinh chỉ chiếm tỷ trọng rất thấp (0,3%) nhưng lại giúp "bảo hiểm rủi ro". "Để người dân có động lực hơn và có ý thức hơn thì người ta phải nhìn thấy hiệu quả kinh tế ở việc đó", PGS.TS Ngô Thị Kim Cúc - Phó Viện trưởng Viện Chăn nuôi Quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) chia sẻ với chúng tôi vào năm 2025.

Các trang trại cũng "không thể tự mình chịu trách nhiệm cho tất cả những việc này. Đây phải là một nỗ lực mang tính phối hợp chung, cần có sự tham gia, đóng góp ý kiến và hành động từ tất cả các bên liên quan, bao gồm bác sĩ thú y, cửa hàng cung ứng, nông dân, cơ quan quản lý nhà nước, các chợ/bên tiêu thụ,...", theo TS. Li Yin - nhà nghiên cứu tại Cơ quan Khoa học Quốc gia Úc (CSIRO).

Nhưng dường như đang có một "điểm mù". "Chúng ta đã nghiên cứu khá nhiều về các loại kháng sinh sử dụng cũng như vi khuẩn đề kháng nhưng nếu hỏi có một hệ thống thông tin công khai, cập nhật liên tục, ví dụ như hỏi tỉnh A phát hiện trên gia cầm đã kháng với những loại kháng sinh nào, hay tỉnh B trên heo đã kháng với những loại kháng sinh nào, thì câu trả lời chắc chắn là không có", anh Bảo cho biết. Dù đã có một số hội thảo cấp quốc gia nhưng hầu như các thông tin chỉ công bố trong hội nghị hoặc dưới dạng nghiên cứu. Trong khi người chăn nuôi mới là nhóm cần phải biết nhiều nhất, được cập nhật liên tục, được hướng dẫn dùng thuốc hợp lý.

Về mặt quy định pháp luật, dùng kháng sinh để kích thích tăng trưởng đã bị cấm từ 1/1/2018 và dùng kháng sinh để phòng bệnh cũng bị cấm kể từ 1/1/2026. Nhưng có một khoảng hở, đó là "chúng ta quản lý người chăn nuôi như thế nào? Chúng ta có giám sát việc sử dụng kháng sinh của họ được hay không, khi thuốc kháng sinh cho người vẫn có thể mua rất dễ dàng?", PGS .TS Trương Đình Bảo đặt câu hỏi.

Từ góc nhìn về mặt kinh tế, các nhà nghiên cứu cho rằng cần xây dựng chuỗi giá trị cho sản phẩm sạch, hỗ trợ các kế hoạch marketing và nhãn chứng nhận an toàn. Người làm công tác thú y địa phương ở cấp xã - những người trực tiếp tư vấn, quản lý dịch bệnh cho người dân và là những người được tập huấn các thông tin liên quan tới việc sử dụng kháng sinh an toàn cũng tác hại của đề kháng kháng sinh - cần phải triển khai kiến thức tập huấn của mình trong công việc tư vấn quản lý dịch bệnh để đảm bảo chăn nuôi bền vững

"Hiện tại, việc này mới chỉ dừng lại ở các hoạt động khi có dự án triển khai ở một khu vực hay tỉnh nào đó, còn ở trên diện rộng thì chúng ta chưa có. Đây là điều cần làm bởi chúng ta mong muốn thay đổi về mặt tư duy. Nếu thay đổi được tư duy thì chính người dân sẽ là người thay đổi cách sử dụng", PGS. TS Trương Đình Bảo nói.

*Tên nhân vật đã được thay đổi.

---

Nguồn các nghiên cứu đã được trích dẫn trong bài:

Bao, T. D., Van Cuong, N., Mai, N. N., Ha, L. T. T., Phu, D. H., Kiet, B. T., Carrique-Mas, J., & Rushton, J. (2024). Economic assessment of an intervention strategy to reduce antimicrobial usage in small-scale chicken farms in Vietnam. One Health, 18, 100699. https://doi.org/10.1016/j.onehlt.2024.100699

Bâtie, C., Minh, H. T., Vu, V. a. T., Luong, D. T., Pham, T. T., Fortané, N., Duc, P. P., & Goutard, F. L. (2023). Reducing antimicrobial use in chicken production in Vietnam: Exploring the systemic dimension of change. PLoS ONE, 18(9), e0290296. https://doi.org/10.1371/journal.pone.0290296

Bâtie, C., Van Duy, N., Khue, N. T. M., Peyre, M., Bordier, M., Dien, N. T., Ton, V. D., & Goutard, F. (2025). Understanding the implementation of antimicrobial resistance policies in Vietnam: a multilayer analysis of the veterinary drug value chain. Peer Community Journal, 5. https://doi.org/10.24072/pcjournal.512

Carrique-Mas, J. J., Choisy, M., Van Cuong, N., Thwaites, G., & Baker, S. (2020). An estimation of total antimicrobial usage in humans and animals in Vietnam. Antimicrobial Resistance and Infection Control, 9(1), 16. https://doi.org/10.1186/s13756-019-0671-7

Di, K. N., Pham, D. T., Tee, T. S., Binh, Q. A., & Nguyen, T. C. (2021a). Antibiotic usage and resistance in animal production in Vietnam: a review of existing literature. Tropical Animal Health and Production, 53(3), 340. https://doi.org/10.1007/s11250-021-02780-6

Di, K. N., Pham, D. T., Tee, T. S., Binh, Q. A., & Nguyen, T. C. (2021b). Antibiotic usage and resistance in animal production in Vietnam: a review of existing literature. Tropical Animal Health and Production, 53(3), 340. https://doi.org/10.1007/s11250-021-02780-6

Doan, T. N., Tran, T. T., Dang, T. H., Nguyen, V. T., Nguyen, T. H. G., & Truong, D. H. (2025). Antimicrobial Resistance and Minimum Inhibitory Concentration Profiles of Flavobacterium oreochromis Isolated from Tilapia Cultured in Northern Vietnam. Vietnam Journal of Agricultural Sciences, 8(4), 2703–2714. https://doi.org/10.31817/vjas.2025.8.4.03

Hedges, S., Pelligand, L., Chen, L., Seow, K., Hoang, T. T., Luu, H. Q., Dang, S. T. T., Pham, N. T., Pham, H. T. T., Cheah, Y. C., Wang, Y., Hurtaud-Pessel, D., Conan, A., Fournié, G., Blake, D., Tomley, F., & Conway, P. L. (2024). Antimicrobial residues in meat from chickens in Northeast Vietnam: analytical validation and pilot study for sampling optimisation. Journal of Consumer Protection and Food Safety, 19(2), 225–234. https://doi.org/10.1007/s00003-024-01478-9

Hoang, H. T. T., Le, Y. H., Khong, D. T., Nguyen, T. N., Tetsuka, N., Yamamoto, M., & Yamamoto, Y. (2026). Campylobacter Contamination and Antimicrobial Resistance in Retail Meat from Vietnam and Japan. Journal of Food Protection, 89(4), 100731. https://doi.org/10.1016/j.jfp.2026.100731

Le, Y. H., Hoang, H. T. T., Khong, D. T., Nguyen, T. N., Que, T. A., Pham, D. T., Tanaka, K., & Yamamoto, Y. (2025). Contamination of retail market meat with extended-spectrum beta-lactamase genes in Vietnam. International Journal of Food Microbiology, 430, 111061. https://doi.org/10.1016/j.ijfoodmicro.2025.111061

Luu, Q. H., Nguyen, T. L. A., Pham, T. N., Vo, N. G., & Padungtod, P. (2021). Antimicrobial use in household, semi-industrialized, and industrialized pig and poultry farms in Viet Nam. Preventive Veterinary Medicine, 189, 105292. https://doi.org/10.1016/j.prevetmed.2021.105292

Mulchandani, R., Wang, Y., Gilbert, M., & Van Boeckel, T. P. (2023). Global trends in antimicrobial use in food-producing animals: 2020 to 2030. PLOS Global Public Health, 3(2), e0001305. https://doi.org/10.1371/journal.pgph.0001305

Nhung, N. T., Cuong, N. V., Campbell, J., Hoa, N. T., Bryant, J. E., Truc, V. N. T., Kiet, B. T., Jombart, T., Trung, N. V., Hien, V. B., Thwaites, G., Baker, S., & Carrique-Mas, J. (2014). High Levels of Antimicrobial Resistance among Escherichia coli Isolates from Livestock Farms and Synanthropic Rats and Shrews in the Mekong Delta of Vietnam. Applied and Environmental Microbiology, 81(3), 812–820. https://doi.org/10.1128/aem.03366-14

Nhung, N. T., Phu, D. H., Carrique-Mas, J. J., & Padungtod, P. (2024). A review and meta-analysis of non-typhoidal Salmonella in Vietnam: Challenges to the control and antimicrobial resistance traits of a neglected zoonotic pathogen. One Health, 18, 100698. https://doi.org/10.1016/j.onehlt.2024.100698

Nohrborg, S., Nguyen‐Thi, T., Xuan, H. N., Hai, Y. L. T., Lindahl, J., Boqvist, S., Järhult, J. D., & Magnusson, U. (2024). Understanding veterinary drug shop workers’ knowledge and practices to identify drivers of antibiotic use in Vietnamese livestock farms. Veterinary Medicine and Science, 10(4), e1502. https://doi.org/10.1002/vms3.1502

Nohrborg, S., Nguyen-Thi, T., Xuan, H. N., Lindahl, J., Boqvist, S., Järhult, J. D., & Magnusson, U. (2024). Understanding Vietnamese chicken farmers’ knowledge and practices related to antimicrobial resistance using an item response theory approach. Frontiers in Veterinary Science, 11, 1319933. https://doi.org/10.3389/fvets.2024.1319933

Pham-Duc, P., Nguyen-Viet, H., Luu-Quoc, T., Cook, M. A., Trinh-Thi-Minh, P., Payne, D., Dao-Thu, T., Grace, D., & Dang-Xuan, S. (2020). Understanding Antibiotic Residues and Pathogens Flow in Wastewater from Smallholder Pig Farms to Agriculture Field in Ha Nam Province, Vietnam. Environmental Health Insights, 14, 1178630220943206. https://doi.org/10.1177/1178630220943206

Truong, D. B., Van Cuong, N., Doan, P. H., Dung, N. T. T., Kiet, B. T., Rushton, J., & Carrique-Mas, J. (2021). Small-scale commercial chicken production: A risky business for farmers in the Mekong Delta of Vietnam. Preventive Veterinary Medicine, 195, 105470. https://doi.org/10.1016/j.prevetmed.2021.105470

Le, T. T., Vo, H. H., Nguyen, T. T., Hoang, H. T. T., Leermakers, M., Gao, Y., & Ngo, H. T. T. (2026). Combined risks of microplastics, trace metals, and antimicrobial resistance in the Nhue–Day River Basin, Vietnam. Environmental Science and Pollution Research. https://doi.org/10.1007/s11356-026-37522-4