Năm 2026, cơn giông của đạo diễn Christopher Nolan thổi vào khán giả đại chúng một nỗi thèm thuồng được gặp gỡ chính mình trong những thiên truyện cổ. Tôi, có lẽ cũng ngờ nghệch thế chăng, đã dành nhiều thời gian trong năm nay để đọc Anne Carson.
Tôi chắc chắn không phải là người đọc trung thành, sâu sắc nhất của tác gia người Canada này: tôi chỉ mới dạo những nẻo thường quen của Carson - Autobiography of Red (Tự truyện của Đỏ), Eros the Bittersweet (Eros: Cay đắng ngọt ngào), The Beauty of the Husband (Vẻ đẹp đức lang quân), và một số tác phẩm thể nghiệm hơn về mặt hình thức: Nox (Đêm), Red Doc> (Bản thảo Đỏ >), và H of H Playbook (Kịch bản Herakles) [1]. Đứng trước một sự nghiệp đồ sộ như vậy, người ta không khỏi tự hỏi: sức hút nào đã lôi kéo hàng thế hệ độc giả dấn thân vào cõi văn chương của Anne Carson?
Carson tự miêu tả bản thân khá đơn giản: sinh ra ở Canada và dạy chuyên ngành Hy Lạp cổ đại để kiếm sống. Đằng sau sự khiêm tốn ấy là một ngòi bút chuyển hóa muôn hình vạn trạng, hiếm khi bị gò bó trong khuôn khổ thời gian hay hình thức.
Nhà văn, nhà thơ Anne Carson dự một sự kiện tại phòng trưng bày nghệ thuật Moderna Museet, Stockholm, Thụy Điển, tháng 5/2015. Ảnh: AFP
Với cuốn sách đầu tay, tiểu luận Eros: Cay đắng ngọt ngào, Carson truy nguyên nguồn gốc của đam mê bằng cách lần theo dấu vết của Sappho và Plato. Bà đặt câu hỏi: Vì sao tình yêu lại đồng nhất với nỗi đau và sự xa cách? Từ những vụn chữ trong thi ca và triết học cổ điển, Carson đã nắm bắt được tính bi kịch, trái khoáy của ái tình: như thơ Xuân Diệu, "Yêu là chết ở trong lòng một ít." Tình yêu, theo Carson, vừa đưa những người yêu nhau lại gần, vừa đẩy họ ra xa. Khoảng xa vắng đó là nguồn gốc của đam mê.
Khi kết hợp với chất văn xuôi đầy mê đắm, Eros: Cay đắng ngọt ngào đã trở thành nền tảng định hình con đường sáng tác về sau của Carson: một nhà thơ, văn sĩ của sự gợi cảm; một dịch giả giữa hai miền đau đớn và tha thiết của tình yêu.
Cuốn tiểu luận đầu tay của Carson được xuất bản năm 1986. Từ đó đến nay, trải qua 40 năm viết lách, bà đã đi qua nhiều vùng đất, theo dấu nhiều nhân vật khác nhau. Có khi đó là một cậu quái vật đồng tính luôn da diết về mối tình đầu của bản thân. Có khi đó là một người phụ nữ sau cuộc ly hôn với người chồng đẹp mã, bản tính trăng hoa. Có khi đó là chính Carson cùng người anh trai mất sớm - hoặc một gã lính từ chiến trận trở về, vì hoang tưởng mà giết cả gia đình. Đan xen giữa những tứ truyện ấy là hình bóng của các văn sĩ nổi tiếng: người ta dễ dàng bắt gặp Homer, Emily Dickinson và Gertrude Stein ngẫu nhiên giữa lưng chừng một đoạn văn hay một dòng thơ.
Carson cũng không ngại đưa người đọc đương đại đến gần hơn với các tay viết thời cổ đại - như khi bà dịch thơ của Stesichorus trong Tự truyện của Đỏ, hay tập If Not, Winter (Nếu không phải mùa đông) dịch thơ Sappho. Khi đọc các trang viết của Carson - cho dù là văn xuôi, thơ ca, hay dịch thuật, trí tưởng tượng của Carson giúp chúng ta đoàn tụ với hình bóng của các học giả, triết gia và văn sĩ thuở trước.
Nhưng điểm nổi bật nhất trong sự nghiệp sáng tác của Carson nằm ở nỗ lực tái hình dung những thiên thần thoại quen thuộc để khám phá những chủ đề và con người mới. Hẳn ai trong chúng ta cũng từng một lần nghe qua về chàng dũng sĩ Heracles và mười hai kỳ công để trở thành vị anh hùng vĩ đại nhất thời Hy Lạp cổ đại. Với Tự truyện của Đỏ, bà tưởng tượng lại kỳ công thứ mười - khi Heracles phải giết và cướp đi đàn gia súc của con quái vật Geryon - thành một câu chuyện tình: Geryon, giờ đây là một cậu thiếu niên với đôi cánh màu đỏ giấu sau lớp áo khoác, đã gặp gỡ và phải lòng Heracles. Hai cậu trai yêu nhau rồi chia xa, rồi vô tình tái ngộ khi đã lớn. Cơn đau dai dẳng của Geryon từ thiếu niên đến tuổi trưởng thành đã thổi một luồng gió mới vào câu chuyện thần thoại đã quá quen thuộc: ai mới là con quái vật, và làm sao con người có thể tiếp tục lớn lên với một trái tim đầy vết nứt?
Hay như trong tập tranh/kịch/thơ Kịch bản Herakles, khi Carson viết lại bài thơ về Heracles của Euripides, kể lại câu chuyện chàng dũng sĩ tàn sát cả gia đình trong cơn điên do bị thần Hera yểm bùa. Ở phiên bản hiện đại này, Heracles là một anh lính mắc rối loạn căng thẳng sau sang chấn: Carson yêu cầu độc giả phải đối diện với cái giá của chiến tranh và mặt tối tăm của bạo lực trong thời đại ngày nay. Dưới ngòi bút của Carson, thần thoại không phải là những câu chuyện chỉ có một cách kể, một lối hiểu: thay vào đó, nó là tấm gương soi để ta nhìn ra những mặt đa chiều của cuộc sống - và đồng thời cảm thấy được an ủi khi những thế hệ xa xưa cũng chia sẻ với ta những câu chuyện oái oăm, đau đớn của thời cuộc.
Sáng tác của Carson đong đầy nỗi đau: nỗi đau vì tình yêu không hồi đáp, vì ly hôn, vì anh trai mất sớm mà chưa kịp gặp lại, v.v. Nhưng những khoảng vắng mặt đau đớn ấy cũng là chìa khóa mở ra nhiều trải nghiệm đẹp trong đời. Thời gian đã mãi mãi chia cắt đôi tình nhân, và cuộc tái ngộ ngắn ngủi giữa Geryon và Heracles đã khiến cậu nhận ra chàng thiếu niên Heracles năm xưa đã không còn tồn tại. Nhân vật Geryon, khi đứng nhìn ngọn lửa dung nham cùng Heracles và người tình, đã cảm khái: "Chúng ta là những sinh linh tuyệt diệu / ... / Chúng ta là láng giềng của lửa." Hay như trong hậu truyện Bản thảo đỏ, khi mẹ của Geryon - giờ đây chỉ còn độc một chữ cái trong tên: G - vừa qua đời, Carson đã miêu tả nỗi buồn vô hạn ấy như sau: "Nước mắt cứ chừng bảy phút là lại rơi. Những ngày tới dần dần cơn đau sẽ vơi đi."
Từ tiểu luận đầu tay, Carson đã lấy sự trống vắng và chia xa làm kim chỉ nam sáng tác của mình: những nỗi đau ấy có giá trị với con người; chúng giúp ta nhận mặt những người thân quen và thêm trân quý những phút giây hạnh phúc ngắn ngủi trong cuộc sống. Bởi vậy, thay vì né tránh những niềm đau đấy, hoặc rơi vào một lối giải quyết gọn ghẽ, có hậu nhưng thiếu thực tế (mà người Hy Lạp cổ đại hay gọi là "deus ex machina" [2]), Carson đã chọn cách đối diện và làm chứng cho những vết sẹo của con người: những sinh vật bấy nhầy trong đau khổ, những "con lươn khổng lồ dưới đáy bể," nhưng vẫn mò mẫm "nhận ra nhau như những chữ in nghiêng."
Trong tác phẩm Vẻ đẹp đức lang quân đoạt giải thưởng T. S. Eliot danh giá, Carson kể câu chuyện về một người vợ có người chồng trăng hoa và cuộc ly hôn sau đó. Ở đoạn kết, khi nhìn lại quãng đời cùng người chồng bội bạc, người vợ vô danh đã rút ra một nhận định: "Ừ thì cuộc đời có lắm nguy cơ. Tình yêu là một. Nguy cơ khủng khiếp." Liền ngay sau đó, người vợ nhắn nhủ độc giả: "Lời khuyên của tôi đây, / hãy nắm lấy. / Nắm lấy cái đẹp." Người chồng, với gương mặt điển trai và bản tính trăng hoa, cuối cùng lại được bao hàm trong "cái đẹp" mà người vợ khuyên độc giả hãy giữ lấy trong đời. Đối diện với những đau khổ không thể tránh khỏi, Carson nhấn mạnh rằng chúng luôn song hành cùng niềm hạnh phúc. Vì vậy, có thể nói, toàn bộ sự nghiệp của Carson là lời làm chứng cho hai thái cực vĩ đại ấy của sự tồn tại: khi niềm vui lẫn nỗi buồn cùng san sẻ để ôm lấy toàn bộ cõi sống của con người, bất kể là thời cổ xưa hay hiện đại, bất kể là đời thật hay giả tưởng.
Phải chăng người ta tìm đến văn chương của Anne Carson vì từ trong hư vô đau đáu của chia ly, cái đẹp được khởi sinh và thành hình? Bà có lẽ là một trong số ít tác giả thời hiện đại còn giữ được tinh thần của chữ "poiesis" trong tiếng Hy Lạp: vốn là nguồn gốc của chữ "poetry" (thi ca) trong tiếng Anh, "poiesis" được dùng để chỉ quá trình sáng tạo hoặc hiện thực hóa một thứ chưa từng tồn tại trước đó. Đọc Carson, người ta như đang nhìn thấy le lói niềm hy vọng và hạnh phúc được hun đúc từ những đau khổ, cách trở trong cuộc đời.
Chú thích:
[1] Tiêu đề các tác phẩm được dịch sang tiếng Việt với sự hỗ trợ của nhà văn Hiền Trang.
[2] Tức "vị thần từ cỗ máy", xuất phát từ việc các diễn viên đóng vai thần linh trong sân khấu Hy Lạp cổ đại đôi khi được đưa lên sân khấu bằng một thiết bị cơ học; vị thần này có thể xuất hiện vào thời điểm bế tắc để can thiệp, giải quyết xung đột mà các nhân vật không thể tự giải quyết.