Nghiên cứu xuất phát từ việc một số nhà khoa học kể rằng họ dẫn nguồn theo yêu cầu của người bình duyệt/phản biện (peer reviewer) - tác giả Adrian Barnett, người chuyên nghiên cứu về quá trình phản biện và quá trình nghiên cứu (metascience) tại Đại học Công nghệ Queensland (Brisbane, Úc), cho biết. Đôi khi yêu cầu này là hợp lý, nhưng nếu người phản biện yêu cầu đưa vào quá nhiều trích dẫn hoặc lý do không thuyết phục, quá trình phản biện có thể biến thành "trao đổi lợi ích", ông nói.
Số lần được trích dẫn giúp làm tăng chỉ số h-index, thước đo phản ánh mức độ ảnh hưởng của các công trình mà một nhà nghiên cứu đã công bố.
![]() |
Hình minh họa. Nguồn: Getty |
Việc đưa ra những yêu cầu không cần thiết hoặc thiếu cơ sở về việc bổ sung trích dẫn, đôi khi được gọi là "ép buộc trích dẫn", thường bị coi là hành vi thiếu chuẩn mực. Balazs Aczel - nhà tâm lý học chuyên nghiên cứu về metascience tại Đại học Eötvös Loránd (Budapest), cho biết: đây không phải nghiên cứu đầu tiên về hiện tượng người phản biện yêu cầu tác giả trích dẫn mình, nhưng quy mô dữ liệu và độ sâu của công trình thật sự khác biệt. Một rào cản lớn đối với chủ đề nghiên cứu này chính là sự thiếu chia sẻ dữ liệu từ các nhà xuất bản.
Nghiên cứu mới sử dụng dữ liệu từ bốn nền tảng xuất bản khoa học mở – F1000Research, Wellcome Open Research, Gates Open Research và Open Research Europe – nơi toàn bộ các phiên bản của bài báo cùng nhận xét của người phản biện đều được để ở chế độ công khai. Nhà xuất bản yêu cầu người phản biện chấp nhận, từ chối hoặc chấp nhận có điều kiện đối với bài báo. Người phản biện cũng phải giải thích nếu yêu cầu tác giả trích dẫn công trình của mình.
Trong tổng số 37.000 lượt phản biện (mỗi bài có ít nhất hai người phản biện), 54% chấp nhận ngay bài báo mà không yêu cầu chỉnh sửa bổ sung gì, 8% từ chối. Có gần 5.000 bài báo đã qua bình duyệt trích dẫn công trình của một người phản biện, và khoảng 2.300 lượt phản biện yêu cầu trích dẫn một công trình của người phản biện.
Kết quả phân tích cho thấy: những người phản biện được trích dẫn có xu hướng chấp nhận bài báo cao hơn sau vòng phản biện đầu tiên, so với những người không được trích dẫn.
Tuy nhiên, khả năng chấp nhận bài báo của những người phản biện chủ động gợi ý tác giả trích dẫn công trình của mình chỉ bằng một nửa khả năng họ từ chối hoặc chấp thuận có điều kiện.
Nếu bài báo không trích dẫn công trình của người phản biện trong phiên bản 1 nhưng đã bổ sung trích dẫn trong phiên bản 2 sau khi được yêu cầu thì 92% người phản biện sẽ đề nghị chấp thuận bài báo. Trong khi đó, nếu người phản biện vẫn không được trích dẫn thì tỉ lệ chấp thuận chỉ là 76%. Kết quả này được rút ra từ gần 400 lượt phản biện đối với những bài báo không trích dẫn công trình của người phản biện trong phiên bản 1 và được yêu cầu bổ sung trích dẫn.
Barnett giải thích: khi người phản biện từ chối một bản thảo, cả họ và tác giả đều biết rằng chính người phản biện đó có thể sẽ đánh giá các phiên bản sau. Vì vậy, nhiều tác giả chọn cách dễ nhất – chèn thêm trích dẫn để bản thảo được chấp nhận.
Barnett cũng phân tích 2.700 nhận xét của người phản biện và xác định được100 từ phổ biến nhất. Ông nhận thấy những người phản biện yêu cầu được trích dẫn có xu hướng sử dụng các từ như "cần" hoặc "vui lòng" khi từ chối bài báo, điều này theo ông chỉ ra rằng ngôn ngữ ép buộc đã được sử dụng.
Jan Feld, nhà nghiên cứu metascience tại Đại học Victoria (New Zealand), không hoàn toàn tin rằng ngôn ngữ như vậy là dấu hiệu của ép buộc. "Nói thế có vẻ khiên cưỡng," ông nêu ý kiến. Có những lý do khác khiến bài báo bị từ chối, ngoài việc tác giả không trích dẫn công trình của người phản biện. Ông thừa nhận có trường hợp yêu cầu trích dẫn không xác đáng, nhưng đôi khi việc gợi ý trích dẫn, bao gồm cả trích dẫn công trình của người phản biện, là để giải quyết vấn đề khoa học thực sự.
Barnett cũng thừa nhận phân tích của ông chưa phân biệt rõ đâu là yêu cầu trích dẫn hợp lý hay bất hợp lý.
Để hạn chế những yêu cầu trích dẫn thiếu căn cứ, Barnett đề xuất: người phản biện nên luôn nêu rõ lý do khi yêu cầu tác giả trích dẫn công trình của họ. Một lựa chọn khác là dùng thuật toán phát hiện và cảnh báo biên tập viên khi có những yêu cầu trích dẫn như vậy, để họ đánh giá mức độ hợp lý.
Theo Feld, sự giám sát chặt chẽ hơn từ phía biên tập viên có thể giúp phát hiện những trường hợp khi việc trích dẫn "rõ ràng" là không cần thiết, nhưng vấn đề ở chỗ đa số các tình huống đều mơ hồ. Ngoài ra, phản biện có thể gợi ý trích dẫn nghiên cứu của người khác, nhưng họ thường đề xuất chính công trình của mình vì họ hiểu nó nhất, ông lý giải.
Nghiên cứu của Barnett đã được công bố trên mạng dưới dạng bản thảo nhưng chưa được bình duyệt.
Nguồn:
https://doi.org/10.31219/osf.io/wdvr9_v1
https://www.nature.com/articles/d41586-025-02547-1
Công Nhất
