"3-5 năm nữa, chúng ta sẽ bơm vào thị trường một đội ngũ lao động STEM rất mạnh và rất tài năng. Gánh nặng lúc đó không còn là đào tạo nữa, mà là phải tạo đủ việc làm để khai thác được lực lượng này," GS. Chử Đức Trình, Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ (ĐH Quốc gia Hà Nội) phát biểu tại hội nghị mới đây của Bộ KH&CN.
Trong vài phút phát biểu, vị hiệu trưởng đã đảo ngược cách nhìn quen thuộc về bài toán nhân lực khoa học. Nhiều năm qua, nỗi lo của Việt Nam là thiếu người học các ngành STEM - hay Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Toán. Nhưng dường như chính sách vĩ mô đã bắt đầu tác động mạnh đến xu hướng chọn ngành của các học sinh tốt nghiệp THPT trong năm nay.
Hơn một nửa số thí sinh năm nay đăng ký vào các ngành STEM. Ảnh: Thanh Tùng
Theo thống kê của Bộ GD&ĐT, tại thời điểm kết thúc thời hạn đăng ký xét tuyển đại học năm 2026, có hơn 467.000 thí sinh đăng ký vào các ngành STEM, chiếm khoảng 53,4% tổng số thí sinh đăng ký xét tuyển.
So với năm 2024 và 2025 với lần lượt hơn 180.000 (24,6%) và hơn 222.000 (26,1%) thí sinh đăng ký vào các ngành STEM, kết quả năm nay là một sự tăng vọt đáng chú ý, GS. Chử Đức Trình nhấn mạnh.
Ông xem làn sóng tuyển sinh đổ vào các ngành STEM năm nay như kết quả của một quá trình dài. Sau nhiều nghị quyết về khoa học, công nghệ và giáo dục, cùng các chương trình đào tạo mới về bán dẫn, vi mạch, trí tuệ nhân tạo, đường sắt hay năng lượng hạt nhân, xã hội bắt đầu tin rằng STEM là con đường có tương lai. Niềm tin ấy phản ánh trực tiếp vào lựa chọn của học sinh và phụ huynh.
Tỷ lệ thí sinh đăng ký vào các ngành STEM năm 2026 tăng đột biến. Đồ họa: Ngô Hà
"Chúng ta đã thuyết phục được nhân dân, và biểu hiện ra là thuyết phục được các thí sinh và gia đình thí sinh đăng ký lựa chọn vào những ngành đào tạo mà chúng tôi cho là rất khó, đó là STEM [...] Đây là một điều rất khởi sắc", ông nói.
Nhưng nếu xu hướng hiện nay tiếp diễn, liệu nền kinh tế có "hấp thụ" hết những người được đào tạo đó không? "Chúng ta phải tạo ra đủ việc làm, khai thác được triệt để các đội ngũ này. Đó là một trong những nhiệm vụ lớn của toàn xã hội", GS. Chử Đức Trình bày tỏ.
Để làm được như vậy, theo vị hiệu trưởng, Việt Nam cần đẩy mạnh sự phát triển của khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) - nơi đã, đang và sẽ luôn là khu vực sử dụng nhiều nhân lực nhất trong nền kinh tế.
Cần cả "đại bàng" và "chim sẻ"
Trong nhiều năm, Việt Nam theo đuổi chiến lược thu hút các tập đoàn công nghệ lớn, những "đại bàng" đến đặt nhà máy và trung tâm sản xuất tại nước ta. Theo GS. Chử Đức Trình, chiến lược này đã đến lúc cần được bổ sung một mảnh ghép khác, đó là nuôi dưỡng những chú "chim sẻ" tuy nhỏ nhưng "ngũ tạng đầy đủ".
Về cơ bản, việc làm chất lượng cao không chỉ nằm ở các tập đoàn khổng lồ - ông nhận định và dẫn ra trường hợp Nhật Bản. Quốc gia này sở hữu nhiều doanh nghiệp công nghệ lớn cũng như mạng lưới doanh nghiệp SME cực kỳ đông đảo, nơi hấp thụ phần lớn lao động kỹ thuật và tạo nên sức sống mạnh mẽ của nền công nghiệp.
Trong cách nhìn của ông, "SME" không đồng nghĩa với nhỏ bé: "Doanh nghiệp chỉ nhỏ về quy mô đầu tư, nhỏ về số lượng nhân lực, nhưng nó phải lớn. Lớn ở gì? Lớn ở tham vọng. Lớn ở thị trường."
GS Chử Đức Trình, Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ - ĐH Quốc gia Hà Nội tại Hội nghị Thể chế KH, CN, ĐMST và CĐS tháo gỡ điểm nghẽn và kiến tạo phát triển do Bộ KH&CN tổ chức ngày 15/7/2026. Ảnh: Lưu Quý
Ông kể về những doanh nghiệp bán dẫn của Nhật chỉ có khoảng 10 nhân sự, bao gồm cả giám đốc, kỹ sư thiết kế đến người bán hàng, nhưng họ vẫn xuất khẩu ra toàn cầu, thậm chí sở hữu những sản phẩm độc nhất mà cả doanh nghiệp quốc phòng cũng phải sử dụng.
Quy mô doanh nghiệp không phải yếu tố duy nhất quyết định giá trị công nghệ, ông nhấn mạnh. Một nhóm kỹ sư tinh nhuệ hoàn toàn có thể tạo ra sản phẩm có vị trí trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Và đó là hình mẫu mà Việt Nam nên học tập.
Điều doanh nghiệp SME còn thiếu
Nhưng làm sao để tạo ra một tầng lớp các doanh nghiệp công nghệ nội địa đông đảo và sẵn sàng sáng tạo, sẵn sàng hấp thụ nhân lực STEM khi các startup - chẳng hạn startup bán dẫn, robot hay công nghệ vật liệu - không dễ dàng mua sắm phòng thí nghiệm, thiết bị chế tạo, máy đo kiểm hay hạ tầng thử nghiệm với chi phí hàng chục, hàng trăm tỷ đồng?
GS. Chử Đức Trình đề xuất một trong những mô hình mà nhiều nền kinh tế công nghệ ở châu Á đã theo đuổi từ lâu: xây dựng các trung tâm R&D dùng chung.
Theo đó, nhà nước chấp nhận bỏ vốn đầu tư toàn bộ hạ tầng nghiên cứu và duy trì vận hành, còn doanh nghiệp, nhóm nghiên cứu, viện, trường sẽ trả chi phí sử dụng, thay vì phải tự xây dựng toàn bộ từ đầu.
Các phòng thí nghiệm, trung tâm R&D dùng chung có thể giúp doanh nghiệp, nhóm nghiên cứu giảm chi phí. Ảnh: Quỳnh Trần
Bằng cách này, doanh nghiệp SME không những được tiếp cận máy móc mà còn tận dụng được kinh nghiệm, quy trình nghiên cứu, bằng sáng chế và tri thức tích lũy tại trung tâm, nhờ đó có thể rút ngắn thời gian sản xuất, thử nghiệm và đưa kết quả ra thị trường.
Ông nhắc đến Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) như những nền kinh tế đã áp dụng mô hình này nhiều năm. Nếu Việt Nam xây dựng các trung tâm như vậy, người hưởng lợi sẽ không chỉ là doanh nghiệp.
"Cả hệ thống giáo dục Việt Nam cũng sẽ được lợi," ông nói, đồng thời khẳng định các trường đại học sẵn sàng tham gia vận hành và đồng hành cùng hệ sinh thái này.
Ông kết luận, nếu làn sóng tuyển sinh STEM hôm nay là một bước ngoặt, thì 3–5 năm tới sẽ là phép thử lớn để xem Việt Nam có thể tạo dựng một hệ sinh thái thuận lợi cho các SME phát huy hiệu quả nguồn nhân lực mà mình vừa đào tạo hay không.
Xem thêm: