Một sản phẩm cánh tay robot được trưng bày tại Triển lãm Đổi mới sáng tạo VIIE 2025, tháng 10/2025. Ảnh: Lưu Quý
Theo công bố mới nhất từ dự án nghiên cứu Atlas of Economic Complexity của Harvard Growth Lab thuộc Trường đại học quản lý nhà nước Harvard Kennedy, nền kinh tế Việt Nam đang tiến xa về trình độ sản xuất phức tạp.
Triển vọng dẫn đầu tăng trưởng toàn cầu 2034
"Việt Nam và Trung Quốc vẫn duy trì được độ phức tạp kinh tế cao hơn so với mức thu nhập hiện tại, vì vậy các nước này sẽ tiếp tục dẫn đầu tăng trưởng toàn cầu trong thập kỷ tới," TS. Ricardo Hausmann, Giám đốc Harward Growth Lab và là nhà nghiên cứu chính của báo cáo, cho biết.
Ông giải thích rằng những quốc gia đã đa dạng hóa sản xuất sang các lĩnh vực phức tạp hơn chính là những quốc gia sẽ dẫn dắt sự tăng trưởng của thế giới, vì họ còn nhiều dư địa để vươn lên.
Việt Nam được dự báo sẽ dẫn đầu nhóm quốc gia về tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người trong thập kỷ tới (2024-2034), với mức tăng trưởng khoảng 5,52%/năm, theo sau là Trung Quốc (4,53%).
"Mức độ phức tạp của nền kinh tế" (Economic Complexity Index – ECI) của một quốc gia không chỉ phụ thuộc vào việc sản xuất được bao nhiêu loại mặt hàng, mà còn phản ánh trình độ tri thức (bí quyết công nghệ) ẩn sâu bên trong những mặt hàng đó. Có những sản phẩm được sản xuất rộng rãi trên toàn thế giới, nhưng cũng có những sản phẩm mà chỉ một số ít quốc gia mới làm được. Nền kinh tế quốc gia nào chế tạo được những sản phẩm càng hiếm và tinh vi thì nền kinh tế đó càng phát triển và có trình độ tri thức càng cao.
Chỉ số ECI của Việt Nam đã có sự thay đổi ấn tượng trong thập kỷ qua. Từ thứ hạng thứ 65 thế giới hồi năm 2014, Việt Nam đã vươn lên vị trí thứ 45 vào năm 2024. Theo dự báo, Việt Nam sẽ có khả năng tăng thêm 11 bậc, vươn lên tới vị trí 34 thế giới vào cuối năm 2034.
Mới 10 năm trước, Việt Nam đang ở trình độ chủ yếu sản xuất những mặt hàng đơn giản như giày da, may mặc, lúa gạo, nguyên liệu thô giống như các nước Indonesia, Columbia, Tunisia, Uruguay; thì nay Việt Nam đã đạt tới trình độ phức tạp hơn - được coi là ngang tầm các nước Bồ Đào Nha, Hy Lạp - nhờ việc sản xuất và xuất khẩu được những mặt hàng có giá trị cao như mạch tích hợp, đồ điện-điện tử gia dụng, thiết bị truyền dẫn cho radio, điện thoại và truyền hình, thép, vải bố lốp, hóa chất...
Mặc dù các mặt hàng có độ phức tạp thấp như giày da, may mặc và nông sản vẫn đang chiếm gần một nửa giỏ hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam (màu nâu vàng), nhưng nhiều ngành hàng đại diện cho mức độ phức tạo cao hơn (màu xanh) đã bắt đầu khẳng định sự hiện diện trong số hàng hóa bán ra thế giới.
Động lực tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đang chuyển dịch mạnh mẽ nhờ vào việc đa dạng hóa các dòng sản phẩm mới có hàm lượng kỹ thuật cao hơn. Kể từ năm 2009 đến nay, Việt Nam đã bổ sung thêm 32 mặt hàng mới vào danh mục sản xuất, bao gồm mạch tích hợp, điện thoại, màn hình-máy chiếu, máy hút bụi, radar, xi măng, đồ chơi, dao cạo râu, ống đồng, oxit nhôm, sắt cán phẳng, trái cây đông lạnh, hóa chất cho điện tử...
Đáng chú ý, các sản phẩm này đã đóng góp tới 69 tỷ USD - chiếm khoảng 15% giá trị xuất khẩu, tương đương với tạo thêm gần 18 triệu đồng/năm (681 USD) vào mức thu nhập bình quân đầu người cho mỗi người Việt Nam tính đến năm 2024. Việc mở rộng thành công số lượng lớn các sản phẩm mới này được đánh giá là yếu tố then chốt, tạo ra nguồn lực đủ mạnh để thúc đẩy tăng trưởng thu nhập theo hướng bền vững hơn.
Lịch sử phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, tăng trưởng nhanh nhờ lao động rẻ có thể giúp một nước thoát nghèo, nhưng để vượt bẫy thu nhập trung bình, quốc gia đó phải nâng cấp năng lực sản xuất. Số liệu của nhóm nghiên cứu Harward Growth Lab cho rằng Việt Nam đang nằm trong nhóm hiếm hoi sở hữu nền tảng này, bên cạnh các nước tiêu biểu như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia và Ấn Độ.
Việt Nam thuộc nhóm thay đổi thứ hạng mạnh nhất về mức độ phức tạp của nền kinh tế" từ đại dịch COVID-19 đến nay. Việt hóa đồ họa: Ngô Hà
Thành công nhờ chiến lược thu hút FDI
Trong hai thập kỷ, Việt Nam đã xác lập được vị thế trong một số lĩnh vực công nghệ cao như thiết bị điện tử. Thị phần xuất khẩu thiết bị điện tử toàn cầu của Việt Nam hồi năm 2000 hầu như là con số không, tới 2024 đã chiếm tới hơn 4,8%.
Để so sánh, trên thế giới có gần 150 quốc gia, nhưng chỉ có một số nước chiếm thị phần đáng kể trong lĩnh vực này như Trung Quốc (28%), Đài Loan (7,1%), Hàn Quốc (6,6%), Malaysia (3,9%)... Việt Nam đã đứng trong tốp 10 thế giới, trở thành một lực lượng sản xuất và xuất khẩu có ảnh hưởng nhất định trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Những tên tuổi lớn như Samsung, Apple, Intel hay các doanh nghiệp bán dẫn đã biến Việt Nam thành cứ điểm sản xuất mới của châu Á.
Dĩ nhiên, phần lớn tăng trưởng công nghiệp điện tử của Việt Nam hiện vẫn dựa nhiều vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) này, đồng nghĩa Việt Nam vẫn đối mặt với bài toán lớn làm sao để doanh nghiệp nội địa tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, sở hữu công nghệ lõi và tránh phụ thuộc vào vốn ngoại.
Tuy nhiên, không thể phủ nhận sự có mặt của các doanh nghiệp FDI đã kéo vị thế của Việt Nam lên trong một số ngành hàng, và cũng có một số tác động lan tỏa (spill-over effect) nhất định làm tăng năng suất của các doanh nghiệp Việt, mặc dù tác động lan tỏa về công nghệ luôn bị thấp hơn kỳ vọng.
Tương tự, với nhóm hàng máy móc, Việt Nam đã chiếm 2,8% thị phần toàn cầu - chủ yếu là máy nông nghiệp, máy chế biến, linh kiện cơ khí, dụng cụ phụ tùng... Thị phần ngành này đã tăng trưởng liên tục trong 5 năm qua với tốc độ trung bình 36%/năm. Đáng chú ý, sự bứt phá này không đến từ yếu tố may mắn hay nhờ tận dụng sự tăng trưởng chung của thị trường toàn cầu, mà trực tiếp đến từ nỗ lực mở rộng và chiếm lĩnh thị phần của Việt Nam trong ngành.
Mở rộng không gian xuất khẩu trong thập kỷ tới
Giữa làn sóng công nghệ 4.0 đang tái định hình kinh tế toàn cầu, khi Việt Nam muốn bước chân vào một số lĩnh vực công nghệ cao như bán dẫn, AI, robot... con đường từ tham vọng đến hiện thực phụ thuộc rất nhiều vào năng lực nội tại và trình độ kỹ thuật của quốc gia.
Theo TS Ricardo Hausmann, chìa khóa không chỉ nằm ở việc theo đuổi xu hướng mới, mà ở khả năng hấp thụ, tái tổ hợp các bí quyết công nghệ sẵn có để từng bước tiến vào những ngành sản xuất phức tạp hơn. Kinh nghiệm từ các cường quốc công nghiệp cho thấy, Việt Nam có thể cân nhắc áp dụng chiến lược "Light Touch" (can thiệp tối thiểu), tức tận dụng tối đa các thành công hiện tại để thâm nhập vào những lĩnh vực sản xuất có độ phức tạp cao hơn.
Không gian sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam năm 2024. Việt hóa đồ họa: Ngô Hà
Nguyên tắc của chiến lược này là chuyển dịch cơ cấu sang các sản phẩm có độ tinh xảo tăng dần, bằng cách cân bằng cả ba yếu tố: ưu tiên những mặt hàng "gần" với thế mạnh kỹ thuật sẵn có để tối ưu hóa năng lực; tập trung vào các sản phẩm tinh vi để nâng cao thu nhập và tiền lương; đồng thời lựa chọn những ngành hàng có tính kết nối để dễ mở đường cho các làn sóng đa dạng hóa sản phẩm tiếp theo.
Harvard Growth Lab đã đưa ra danh sách khuyến nghị 50 mặt hàng mà Việt Nam nên tập trung vào, chủ yếu thuộc ba lĩnh vực quốc gia đang có thế mạnh là máy móc công nghiệp, thiết bị điện tử và dệt may.
Những lĩnh vực này được cho là có cơ hội phù hợp để Việt Nam chuyển từ mô hình tăng trưởng xuất khẩu dựa chủ yếu vào FDI sang thế chủ động hơn, nơi doanh nghiệp nội địa từng bước bồi đắp nội lực và tham gia sâu hơn vào hệ sinh thái công nghệ cao.
--
Tài liệu tham khảo:
The Growth Lab at Harvard University, 2026, "International Trade Data (HS92)", https://doi.org/10.7910/DVN/T4CHWJ, Harvard Dataverse