Thậm chí, sau các tranh chấp bản quyền, và nhất là vụ án BH Media bị khởi tố, nhiều người gọi các mạng lưới quản lý đa kênh (MCN - Multi-Channel Network) trên các nền tảng như YouTube và TikTok là "quyền lực đen".
Nguyên nhân "không phải vì bản chất MCN là xấu, mà vì ở Việt Nam quyền lực đang nghiêng hẳn về phía một số doanh nghiệp nắm công cụ, còn nghệ sĩ, tác giả gần như tay không", PGS. Nguyễn Văn Thăng Long, Phó chủ nhiệm bộ môn Truyền thông chuyên nghiệp, Đại học RMIT Việt Nam, trao đổi với báo chí.
Khoảng trống hiểu biết
Hiện nay, tại Việt Nam chỉ có số ít MCN được các nền tảng trao quyền truy cập hệ thống quản lý nội dung quy mô lớn như Content ID của Youtube. Những đơn vị này có thể tạo "dấu vân tay số" cho nội dung, gửi yêu cầu nhận diện bản quyền (claim), chặn hoặc thu doanh thu từ hàng trăm, hàng ngàn video chỉ bằng vài thao tác kỹ thuật.
Trong khi đó, đa số nghệ sĩ, nhạc sĩ và nhà sáng tạo nội dung lại không có công cụ tương tự, thậm chí chưa thực sự hiểu rõ các khái niệm như dữ liệu nhận diện nội dung (metadata), giấy phép đồng bộ nội dung với hình ảnh (sync license) hay "dấu vân tay số" của tác phẩm.
Do vậy, "Sự lộng hành của một số MCN là hệ quả của việc công nghệ phát triển nhanh hơn tốc độ cập nhật của luật pháp và năng lực hiểu biết của giới sáng tạo", PGS. Nguyễn Văn Thăng Long nhận xét.
Một người sử dụng smartphone có logo YouTube. Ảnh: Bảo Lâm
Ông chỉ ra, trong 20 năm trở lại đây, Việt Nam chuyển dịch rất nhanh từ băng đĩa truyền thống sang các nền tảng số YouTube, TikTok và phát trực tiếp (streaming), nhưng nhiều nghệ sĩ lại bước vào môi trường số mà không được trang bị kiến thức nền tảng về quyền tác giả, quyền liên quan hay các loại giấy phép số.
Chia sẻ trên mạng xã hội, nhạc sĩ Nguyễn Văn Chung, người đã có những sáng tác hit đình đám quen thuộc với thế hệ 8x, 9x, và gần đây nhất nổi bật với ca khúc Viết tiếp câu chuyện hòa bình (2023), kể lại:
"...tôi đã quá quen với việc bị ăn cắp chất xám và lợi nhuận của mình, từ lần đầu tiên vào năm 2008 (trong lĩnh vực nhạc chuông chờ). Thời gian đó đúng là 1 cú sốc mất mát mà tôi phải chịu trên con đường sự nghiệp, bạn có cảm giác thế nào khi đọc thấy tổng kết doanh thu nhạc chuông chờ từ các nhà mạng cho 1 bài Hit của mình là 1,7 tỷ đồng mà người nhận không phải mình. Đến khi hỏi thẳng ekip ca sĩ thì nhận được câu trả lời qua loa cho qua chuyện và đưa mình 30 triệu an ủi?"
Từ trải nghiệm đó, nhạc sĩ Nguyễn Văn Chung nhận ra "không phải ai làm nghệ thuật cũng vô tư". Ông bắt đầu cẩn trọng hơn trong các văn bản, thỏa thuận, hợp đồng... Tuy nhiên, sự phát triển công nghệ quá nhanh cùng những nền tảng mới xuất hiện, và có những quy định mới mà người làm nghệ thuật chưa kịp nắm vững, khiến ông tiếp tục bị lợi dụng.
"Tôi lại bị một kẻ tự xưng là luật sư bản quyền chuyên đi đòi lại công bằng cho nhạc sĩ tiếp cận và thuyết phục rằng nếu ký giấy ủy quyền cho hắn, hắn sẽ giúp tôi đi đòi lại số tiền đã thất thoát. Nhưng ai ngờ chính hắn lại mang giấy ủy quyền những bài hát đó tiếp tục ký bán cho các công ty khác để hưởng lợi. Và sau đó là những vụ lừa đảo từ những công ty khác, quy mô hơn với những thủ đoạn tinh vi hơn bằng những câu chữ..."
Quá trình gia hạn bản quyền giữa YouTube và tổ chức bản quyền biểu diễn SESAC (Mỹ) bị đình trệ hồi tháng 9/2024, dẫn đến việc nhiều bài hát phổ biến bị xóa khỏi nền tảng video tại thị trường Mỹ. Ảnh: Lickd
Tuy nhiên, không phải nghệ sĩ nào cũng có được sự cẩn trọng được tích lũy bằng kinh nghiệm xương máu như nhạc sĩ Nguyễn Văn Chung. Nhiều người vào nghề với rất ít hiểu biết về luật bản quyền và các tài sản trí tuệ số.
Khoảng trống hiểu biết này khiến nhiều nghệ sĩ ký hợp đồng quản lý kênh hoặc ủy quyền số mà không hiểu rõ phạm vi, thời hạn hay cách chia doanh thu. Khi chưa coi dữ liệu và "dấu vân tay số" là tài sản, họ vô tình trao toàn bộ chìa khóa cho bên nắm công nghệ và chỉ nhận ra bất lợi sau nhiều năm.
Trong khi đó, các MCN lại là nhóm hiểu nền tảng rõ nhất, biết cách vận hành hệ thống nhận diện bản quyền Content ID, tối ưu việc gửi yêu cầu nhận diện nội dung và tận dụng những khoảng trống trong quy trình kiểm chứng.
BH Media đã nhiều lần bị giới nghệ sĩ lên án vì "nhận vơ" các bài nhạc Việt không thuộc sở hữu của mình và kiếm lợi bất chính, khiến cho chính nghệ sĩ tạo ra âm nhạc phải lên tiếng để đòi lại sự minh bạch cho đứa con tinh thần của mình. Đó là một nghịch lý lớn.
Cần một hệ sinh thái bản quyền chặt chẽ
Nhưng vì sao, MCN lại hoạt động tốt ở các nước phát triển? Theo PGS. Nguyễn Văn Thăng Long, ở những quốc gia này, mô hình MCN vẫn phổ biến nhưng được "neo lại" bởi một hệ sinh thái bản quyền chặt chẽ và đồng bộ hơn nhiều.
Các MCN muốn khai thác kho nội dung âm nhạc phải ký các hợp đồng cấp phép rõ ràng với đơn vị phát hành âm nhạc, hãng thu âm hoặc các tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả như ASCAP, BMI, PRS hay JASRAC (Ở Việt Nam, tổ chức tương tự là VCPMC - Trung tâm Bảo vệ Quyền tác giả Âm nhạc Việt Nam)
Những hợp đồng này quy định cụ thể về quyền sử dụng bản ghi, quyền sử dụng nhạc đi kèm hình ảnh, phạm vi lãnh thổ, thời hạn khai thác cũng như cơ chế phân chia doanh thu.
Ngoài ra, nghệ sĩ tại nhiều quốc gia còn được hỗ trợ bởi các hiệp hội nghề nghiệp mạnh và đội ngũ luật sư sở hữu trí tuệ chuyên sâu. Nếu lạm dụng Content ID hoặc "nhận vơ" bản quyền, MCN có thể đối mặt với các vụ kiện dân sự hoặc hình sự với mức bồi thường rất lớn.
Hội nghị Xuất bản Âm nhạc Youtube vào 5/2026 tại Thái Lan quy tụ các tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả (CMOs) trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương như KOMCA (Hàn Quốc), APRA (Úc), FILSCAP (Philipines), VCPMC (Việt Nam), COMPASS (Singapore), MCT (Thái Lan), MACP (Malaysia)... nhằm trao đổi về cách thức nâng cao hiệu quả hợp tác trong lĩnh vực khai thác quyền tác giả âm nhạc trên nền tảng số và các xu hướng mới. Nguồn ảnh: VCPMC
PGS. Nguyễn Văn Thăng Long cho rằng các nền tảng như YouTube cần có trách nhiệm lớn hơn. Tại nhiều thị trường lớn, YouTube chịu áp lực mạnh từ luật pháp và cộng đồng sáng tạo nội dung, buộc nền tảng này phải minh bạch hơn trong xử lý tranh chấp bản quyền, hoàn thiện cơ chế kháng nghị và kiểm soát chặt các tài khoản lạm dụng công cụ báo cáo bản quyền.
Trong khi đó, dù xếp Việt Nam vào "một trong những thị trường chính" và "có doanh thu đáng kể" tại thị trường này, YouTube vẫn chưa cho thấy mức độ cam kết và trách nhiệm tương xứng trong việc bảo vệ nhà sáng tạo nội dung trong nước.
Hiện có khoảng 20.000 người kiếm tiền trên Youtube, với hàng triệu người liên quan, mang về khoản doanh thu ngoại tệ tương đương 1.500 tỷ đồng, theo chia sẻ của nền tảng tại sự kiện dành cho các nhà sáng tạo nội dung năm 2023. Con số hiện nay có lẽ đã tăng lên đáng kể.
Việc một đơn vị như BH Media có thể đăng ký, khai thác và tranh chấp bản quyền trên quy mô lớn trong suốt một thời gian dài cho thấy nền tảng đã để khoảng trống quá lớn cho bên trung gian, thay vì chủ động thiết kế các "chốt chặn" và kênh đối thoại dành riêng cho nghệ sĩ, nhạc sĩ Việt Nam.
Một yếu tố khác biệt quan trọng là giáo dục bản quyền số được xem như một phần của hạ tầng công nghiệp sáng tạo. Nghệ sĩ, nhà sản xuất và quản lý thường xuyên được đào tạo về quyền tác giả, quyền liên quan, giấy phép số và các rủi ro pháp lý trong môi trường trực tuyến. Tuy nhiên, những hoạt động này ở Việt Nam chưa thực sự phổ biến.
Hoạt động khởi tố gần đây phát ra một thông điệp rõ ràng tới thị trường là các mô hình kiếm tiền mà không xin phép tác giả, nhạc sĩ hay chủ sở hữu bản ghi sẽ không còn nằm trong vùng xám dung thứ nữa.
Tuy nhiên, nếu chỉ mạnh tay xử lý mà thiếu hướng dẫn rõ ràng và cơ chế hỗ trợ thì thị trường rất dễ rơi vào trạng thái "đứng hình": ngại đầu tư, ngại ghi hình, ngại đưa sản phẩm lên nền tảng.
***
Có lẽ, câu hỏi "bao giờ nghệ sĩ thôi phải đi đòi lại nhạc của mình?" sẽ chưa thể có lời đáp ngay lập tức. Nhưng ít nhất, những tranh cãi và động thái xử lý gần đây đang cho thấy một thực tế rằng mọi thứ sẽ được thay đổi theo hướng tôn trọng bản quyền hơn.
Trong bối cảnh Việt Nam đang nói nhiều tới chiến lược xuất khẩu văn hóa và công nghiệp sáng tạo, đây là thời điểm phù hợp nhất để tất cả các bên liên quan - bao gồm cơ quan quản lý, các tổ chức như VCPMC, hiệp hội âm nhạc và các nền tảng số - cùng xây dựng bộ tiêu chuẩn minh bạch hơn cho hoạt động khai thác âm nhạc trên môi trường số.
Một thị trường âm nhạc số lành mạnh sẽ không thể tồn tại nếu người sáng tạo vẫn là mắt xích yếu nhất trong chuỗi giá trị.
Khi nghệ sĩ hiểu rõ quyền của mình, khi hợp đồng số được minh bạch hóa, khi các nền tảng không còn đứng ngoài tranh chấp và khi luật pháp đủ nhanh để theo kịp công nghệ, câu chuyện "đòi lại nhạc của mình" mới có thể chấm dứt. Và đó không chỉ là quyền lợi của riêng nghệ sĩ, mà còn là điều kiện để ngành công nghiệp sáng tạo Việt Nam bước ra thị trường toàn cầu bằng chính tài sản trí tuệ của mình.
Minh Ngọc