Một đứa trẻ không thể bị hành hạ suốt nhiều tháng mà hoàn toàn không để lại dấu hiệu: những tiếng khóc giữa đêm, những vết bầm tím, sự sợ hãi bất thường, những ngày nghỉ học liên tiếp... Nhưng vì sao những dấu hiệu ấy dường như "vô hình?". Và những trường hợp đơn lẻ được phản ánh trên truyền thông mới chỉ là tầng nổi của tảng băng mà chúng ta thấy được.
Nghiên cứu của UNICEF cho thấy tới 68% trẻ em từ 1-14 tuổi ở Việt Nam bị người thân bạo hành về thể chất hoặc tâm lý, cũng như trải qua các hình thức "kỷ luật bạo lực". Dù cách đo lường giữa các quốc gia có khác nhau, đây vẫn là mức cao so với nhiều nước phát triển, nơi các hệ thống bảo vệ trẻ em và công tác xã hội gia đình đã được xây dựng từ sớm.
Vấn đề này có liên quan chặt chẽ đến công tác xã hội (CTXH) gia đình, đến nay vẫn còn rất lỏng lẻo. Chúng ta cần thiết đặt tầm quan trọng của CTXH gia đình lên bàn nghị sự, nhằm kích hoạt hệ thống phòng ngừa. Theo tôi, có những lý do sau khiến CTXH gia đình còn rất yếu và cần thay đổi:
Chúng ta đang theo mô hình "xử lý hậu quả" hơn là "phòng ngừa
Các cơ quan quản lý nhà nước và công chúng xã hội phản ứng rất mạnh với những trường hợp trẻ bị bạo hành, như trường hợp phẫn nộ gây cái chết thương tâm của em bé 4 tuổi gần đây. Nhưng chúng ta vẫn còn thờ ơ với thực tại, chưa có một hệ thống quy định rõ trách nhiệm từng cá nhân, từng cơ quan cụ thể liên quan với vai trò phòng ngừa, xử lý ở giai đoạn âm ỉ trước khủng hoảng.
Khi xảy ra vụ việc nghiêm trọng, công an, chính quyền, báo chí vào cuộc rất nhanh. Nhưng ở tầng sớm hơn, khi gia đình đã bắt đầu rạn nứt, cha mẹ quá tải, trẻ có dấu hiệu bị bỏ bê, thì mạng lưới phát hiện sớm và hỗ trợ tại cộng đồng còn mỏng.
Cần có cơ chế chuyên nghiệp để theo dõi, lắng nghe được những vấn đề của các em, nhất là để lưu hồ sơ theo dõi các em đã từng bị bạo hành từ trước đó. Ảnh: Pexel
UNICEF nhiều lần nhấn mạnh Việt Nam "chưa có một hệ thống bảo vệ trẻ em vận hành hiệu quả ở cấp cơ sở", trong khi thiếu hụt nghiêm trọng nhân lực CTXH chuyên nghiệp và hệ thống quản lý ca (case management) để theo dõi trẻ em có nguy cơ.
Không phải là "không ai quan tâm", nhưng không có một đầu mối chịu trách nhiệm xuyên suốt. Một giáo viên thấy trẻ nghỉ học nhiều ngày có thể báo cho phụ huynh và nhà trường; hàng xóm nghe tiếng bạo hành có thể biết nhưng ngại can thiệp; công an khu vực thường chỉ xuất hiện khi vụ việc đã mang tính hình sự.
Giữa các mắt xích ấy tồn tại một khoảng trống lớn là ai là người theo dõi dài hạn một gia đình nguy cơ?
Thiếu mô hình nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp
Nhiều nước có mô hình nhân viên CTXH quản lý ca, có trách nhiệm ghi nhận hồ sơ theo dõi, đặc biệt theo dõi, lưu hồ sơ và báo các cơ quan thực thi pháp luật có liên quan về các trường hợp đã có dấu hiệu bạo hành từ trước đó, đến thăm theo lịch trình được quy định, đánh giá nguy cơ, kết nối dịch vụ y tế - giáo dục - tâm lý - pháp lý, và theo dõi liên tục cho tới khi gia đình ổn định. Trong khi đó tại Việt Nam, chúng ta không có nhân viên công tác xã hội.
Tôi từng quan sát và làm việc với một số tổ chức xã hội làm việc với trẻ em như chương trình trẻ em đường phố Thảo Đàn, Mái ấm Cầu Hàn hay Mái ấm Hoa Hồng Nhỏ. Ở đó, nhân viên CTXH đến tận nơi sống của trẻ, hỏi han người chăm sóc, quan sát sự thay đổi tâm lý, theo dõi những gia đình có nguy cơ... để đánh giá mức độ hỗ trợ, phối hợp với ban ngành địa phương để có những hành động phù hợp, cũng như nhắn nhủ các dịch vụ xã hội khi gia đình cần đến. Đó chính là các mô hình cần được tham khảo cho việc xây dựng mạng lưới nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp.
Có những trẻ mồ côi cha hoặc mẹ, sống với ông bà già yếu hay người thân xa. Chỉ cần vài tháng không còn ai ghé thăm, mọi thứ có thể trượt rất nhanh vào khủng hoảng.
Văn hóa coi chuyện trừng phạt trẻ là "chuyện trong nhà"
Nhiều dấu hiệu nguy cơ thường bị coi là thuộc phạm vi "gia đình người ta tự lo": trẻ hay nghỉ học, cha mẹ căng thẳng kéo dài, bạo lực lời nói, bỏ bê con cái, xung đột triền miên... Khi hàng xóm, giáo viên, họ hàng ngần ngại chuyện riêng, hệ thống thường chỉ nhìn thấy vấn đề khi đã bùng phát.
Điều này thấy rõ ràng với hai trường hợp xót xa vừa qua, đều ở nhà trọ, và chắc chắn hàng xóm, chủ nhà hay anh em ở chung biết nhưng không có hành động gì cho đến khi hậu quả nghiêm trọng xảy ra cho trẻ.
Mặt khác, trong môi trường đô thị hiện đại, đặc biệt ở các khu nhà trọ nhập cư, các mối quan hệ cộng đồng vốn trước kia bền chặt thì nay ngày càng lỏng lẻo. Người dân sợ liên lụy, sợ "xía vào chuyện nhà người khác", hoặc không biết phải báo cho ai. Và ngay cả khi muốn can thiệp, nhiều người cũng không biết phải gọi cho ai ngoài công an - trong khi hầu hết các dấu hiệu ban đầu chưa đến mức hình sự.
Chính vì có rất nhiều lỗ hổng ấy, nên hệ thống bảo vệ trẻ em ở nhiều nước không đặt toàn bộ kỳ vọng vào đạo đức cộng đồng, mà thiết kế các cơ chế báo động sớm mang tính thể chế: giáo viên có nghĩa vụ báo cáo, bác sĩ có quy trình phát hiện dấu hiệu bạo hành, nhân viên xã hội có quyền tiếp cận gia đình nguy cơ. Điều này giúp việc bảo vệ trẻ không phụ thuộc hoàn toàn vào "sự tốt bụng" của hàng xóm.
Môi trường đô thị càng khiến cho các mối quan hệ cộng đồng lỏng lẻo dần, dễ dẫn đến trường hợp khi bạo hành dẫn tới hậu quả nghiêm trọng cộng đồng mới phát hiện. Chính vì thế, càng cần có cơ chế theo dõi, đánh giá, phòng ngừa từ sớm. Ảnh: Pexel
Trong các lớp học làm cha mẹ mà tôi tham gia giảng dạy, những giảng viên luôn đưa ra các tình huống mà học viên cần phải đánh giá nhanh, đưa ra những chỉ báo để tiến hành việc nhắc nhở khi gặp trường hợp bạo hành với trẻ em, gọi ngay các cơ quan địa phương hay tổng đài 111 là cách hỗ trợ tốt nhất trong trường hợp này. Tôi hy vọng các lớp học này sẽ được nhân rộng để không những cha mẹ mà hàng xóm nhận thức nhằm báo cáo ngay các hành vi bạo lực xảy ra trong khu vực.
Chưa đánh giá đúng mức các vấn đề xã hội để có giải pháp giảm tải áp lực gây ra hành vi
Sau bi kịch, câu hỏi thường là: nguyên nhân do ai?
Trên thực tế, các hành vi bạo lực trong gia đình trẻ em liên quan rất nhiều đến môi trường sống, đến áp lực kinh tế gia đình. UNICEF từng cảnh báo quá trình đô thị hóa nhanh và áp lực kinh tế - xã hội đang tạo thêm áp lực lên gia đình Việt Nam, làm gia tăng nguy cơ trẻ bị bỏ bê, bạo lực hoặc thiếu chăm sóc. Do đó, trong mô hình phòng ngừa, câu hỏi đến sớm hơn: Gia đình này đã kiệt sức từ khi nào? thiếu hỗ trợ ở đâu? Họ nằm trong hoàn cảnh nào của xã hội?
Hai cách hỏi này khác nhau, và nó dẫn tới hai kiểu phản ứng của chính phủ, đặc biệt ngành xã hội (vừa bị xóa bỏ cơ quan chuyên trách, sáp nhập vào ngành Y tế), rất khác nhau. Do vậy khi câu hỏi thứ hai được xem trọng, vai trò của nhân viên CTXH rất nên được quan tâm để kịp thời làm cầu nối, hỗ trợ tâm lý cho trẻ và gia đình.
Nhiều người thường nghĩ chỉ những xã hội giàu có mới đủ nguồn lực để xây dựng các hệ thống bảo vệ trẻ em, hỗ trợ sức khỏe tâm thần hay công tác xã hội gia đình. Nhưng nghịch lý nằm ở chỗ chính những xã hội đang phát triển như Việt Nam lại là nơi các cú sốc xã hội xảy ra dày đặc - từ áp lực mưu sinh, nhập cư lao động, nhà trọ chật hẹp, cho tới tình trạng cha mẹ kiệt sức vì kinh tế và thiếu hỗ trợ chăm sóc con cái.
Nói cách khác, nhu cầu về công tác xã hội ở các nước đang phát triển có khi còn lớn hơn rất nhiều so với các xã hội ổn định. Nhưng đây lại thường là lĩnh vực bị xem như "phần phụ", chỉ được chú ý sau khi bi kịch xảy ra.
Ở nhiều quốc gia phát triển, hệ thống CTXH không được xây dựng vì họ "ít vấn đề", mà ngược lại, vì họ hiểu rằng nếu không có mạng lưới phòng ngừa đủ mạnh, những vấn đề gia đình rất dễ biến thành khủng hoảng xã hội lớn hơn như bạo lực, tội phạm vị thành niên, vô gia cư, nghiện ngập hay đổ vỡ thế hệ.
Dịch vụ hỗ trợ gia đình còn chưa đủ gần dân
Để giảm áp lực gây ra hành vi, một mô hình phòng ngừa cần những thứ rất "đời thường": tư vấn cho cha mẹ hay người chăm sóc trẻ, hỗ trợ sức khỏe tâm thần, hỗ trợ chăm sóc tạm thời, can thiệp khủng hoảng tại cộng đồng, theo dõi liên tục những trường hợp đứt gãy mối quan hệ trong gia đình (như các trường hợp trẻ phải ở với mẹ kế/cha dượng vừa qua).
Ở nhiều nơi tại Việt Nam, các dịch vụ đó chưa phủ đủ rộng hoặc chưa kết nối thành chuỗi can thiệp liền mạch, nhiều địa phương không có người chuyên môn về trẻ em hay phải làm kiêm nhiệm nhiều vai trò xã hội khác.
Mặc dù Việt Nam ghi tên mình vào việc ký Công ước quốc tế về Quyền trẻ em thứ 2 trên thế giới, về lĩnh vực cộng đồng xã hội chúng ta có nhiều tổ chức làm về trẻ em nhất nhì so sánh với các lĩnh vực xã hội khác, nhưng các sự việc liên quan đến trẻ em một cách toàn diện, trong đó có gia đình vẫn còn rất mỏng và xem nhẹ CTXH chuyên trách với gia đình, đặc biệt với trẻ em.
Tạm kết, Việt Nam không thiếu phản ứng đạo đức sau bi kịch, minh chứng rõ ràng của nhiều phẫn nộ qua nay; tuy nhiên chúng ta thiếu là một hạ tầng xã hội đủ mạnh để nhận ra sự đổ vỡ từ trước khi nó trở thành bi kịch, và đầu tư thích hợp cho công tác xã hội gia đình. Bảo vệ trẻ em không bắt đầu từ phiên tòa, mà bắt đầu từ khả năng phát hiện tiếng kêu cứu khi tiếng kêu ấy còn rất nhỏ.