Hiện nay việc công nhận GS, PGS ở Việt Nam được tổ chức định kỳ hằng năm. Ảnh: VnExpress
Đến hẹn lại lên, cứ sau Tết Nguyên đán một thời gian không xa, giới học thuật và nhất là các ứng viên tiềm năng của đội ngũ trí thức "chính danh" quốc gia, lại phập phồng và háo hức chờ đợi các thông tin được phát ra từ Văn phòng Hội đồng Giáo sư Nhà nước.
Mô hình ba cấp hội đồng
Trước năm 1997, việc công nhận GS, PGS ở Việt Nam không được tổ chức định kỳ hằng năm mà làm theo từng đợt (như các đợt năm 1980, 1984, 1988, 1991, 1992, 1996...). Giữa các đợt còn có một số giai đoạn Nhà nước ra quyết định tạm ngừng hoặc gián đoạn việc xét duyệt.
Chẳng hạn, giai đoạn 1997 – 2000, việc xét duyệt bị tạm dừng hoàn toàn trong suốt bốn năm. Nguyên nhân là để các cơ quan quản lý nhà nước rà soát, soạn thảo và chuẩn bị ban hành hệ thống quy chế mới (Nghị định 20/2001/NĐ-CP). Giai đoạn này đánh dấu bước chuyển đổi quan trọng từ việc phong "học hàm" (có giá trị suốt đời) sang cơ chế xét công nhận đạt tiêu chuẩn và bổ nhiệm "chức danh" GS, PGS (vẫn "gần như" suốt đời nhưng đã ít nhiều gắn với vị trí việc làm chuyên môn).
Đến năm 2008 cũng không có đợt xét duyệt độc lập nào mà được tạm hoãn để gộp chung vào đợt xét của năm 2009. Lý do tương tự: để chờ Thủ tướng Chính phủ ký ban hành quy định về tiêu chuẩn và thủ tục mới (Quyết định số 174/2008/QĐ-TTg ban hành vào ngày 31/12/2008).
Năm 2018 là đợt tạm dừng xét nhận được nhiều sự quan tâm nhất của dư luận vì những điều tiếng từ đợt xét năm 2017 đã động tới "thiên đình". Năm đó, số lượng ứng viên đạt chuẩn cao kỷ lục - 1.226 người - nhưng vướng nhiều lùm xùm về chất lượng; bởi vậy Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu Hội đồng Giáo sư Nhà nước tạm dừng đợt xét mới trong năm 2018 để tập trung rà soát lại toàn bộ hồ sơ của đợt công nhận năm 2017 - kết quả, 41 trường hợp bị loại (từ đạt chuẩn thành không đạt chuẩn). Việc tạm dừng năm 2018 còn nhằm mục đích chờ ra đời tiêu chuẩn xét duyệt mới khắt khe hơn, thực chất hơn, đặc biệt yêu cầu bắt buộc về các bài báo công bố quốc tế (Quyết định số 37/2018/QĐ-TTg).
Hiện nay, quá trình xét, công nhận và bổ nhiệm GS, PGS ở nước ta trải qua ba cấp hội đồng: Hội đồng Giáo sư cơ sở, Hội đồng Giáo sư ngành/liên ngành, và Hội đồng Giáo sư Nhà nước. Mỗi hội đồng đều có các chức danh Chủ tịch, Phó chủ tịch, Thư ký và các ủy viên; riêng Hội đồng Giáo sư Nhà nước có Văn phòng giúp việc cho Chủ tịch.
Trong đó, Hội đồng Giáo sư cơ sở - được Chủ tịch Hội đồng Giáo sư Nhà nước ra quyết định thành lập theo đề nghị của cơ sở giáo dục đại học - thực chất đang hoạt động như một "màng lọc thô".
Hội đồng Giáo sư ngành/liên ngành được coi là màng lọc nghiêm cẩn nhất về mặt chuyên môn và cả thủ tục pháp lý, thay mặt Hội đồng Nhà nước "xử kiện" về chuyên môn học thuật của các ứng viên.
Hội đồng Giáo sư Nhà nước thay mặt Nhà nước để quản trị công tác xét, công nhận và bổ nhiệm GS, PGS theo đúng chính sách, pháp luật. Hội đồng hiện hoạt động gần như một cấp hoạch định chính sách, ban hành các quyết định mang tính hành chính về các công tác liên quan - như việc thành lập và giám sát hoạt động của Hội đồng Giáo sư các cấp, công nhận đạt chuẩn cho các ứng viên, hội nhập quốc tế, và... "xử kiện". Hội đồng thảo luận một cách công khai, minh bạch từng trường hợp vướng mắc, kiện cáo; các trường hợp "có vấn đề" về chuyên môn, Hội đồng Giáo sư Nhà nước giao cho các Hội đồng Giáo sư ngành thẩm định và báo cáo bằng văn bản trước phiên họp bỏ phiếu.
Bất cập trong dáng dấp sự cẩn trọng
Cấu trúc nêu trên, tuy mang dáng dấp của sự cẩn trọng, thực tế đang vận hành với nhiều bất cập.
Hội đồng cơ sở dễ dãi và thiếu trách nhiệm giải trình: Trong thực tế, đây thường được xem là chốt chặn "dễ thở" nhất bởi tâm lý nể nang, cục bộ. Những ứng viên mới mấp mé đạt chuẩn tối thiểu vẫn dễ dàng được "cho qua". Dù có rất nhiều ứng viên bị đánh trượt ở các vòng sau, chưa có Hội đồng cơ sở hay cơ sở giáo dục đại học nào bị khiển trách. Sự thiếu vắng chế tài này đang dung túng cho thực trạng vô trách nhiệm, biến vòng sơ loại cấp cơ sở trở thành một thủ tục mang nặng tính hình thức.
Hội đồng ngành/liên ngành gây tranh cãi về năng lực: Việc lựa chọn thành viên cho 28 Hội đồng ngành/liên ngành, kể cả vị trí Chủ tịch, vẫn gây nhiều băn khoăn, tranh cãi về năng lực, thành tựu và liêm chính học thuật.
Quy trình giới thiệu thành viên hội đồng hiện nay từ các cơ sở giáo dục đại học, các nhà khoa học dường như rất công khai; nhưng quy trình và tiêu chí lựa chọn từ số đông này những gương mặt xứng đáng, được xã hội và giới học thuật tâm phục khẩu phục để Bộ trưởng Bộ GD&ĐT bổ nhiệm vào vị trí chủ tịch, phó chủ tịch, thư ký và ủy viên của các Hội đồng còn thiếu sự giám sát cần thiết. Lý lịch khoa học của các thành viên được công khai trên website, nhưng lại chưa có cơ chế "hậu kiểm" độc lập do không có ai chịu trách nhiệm thẩm định mức độ chính xác, trung thực của các bản lý lịch tự khai.
Một điểm gây tranh cãi nữa nằm ở việc chưa áp dụng chuẩn đo lường năng lực nghiên cứu khoa học được quốc tế thừa nhận và ứng dụng rộng rãi, đó là chỉ số H-Index của cá nhân mỗi nhà khoa học.
Trong kỷ nguyên hội nhập, H-Index theo cơ sở dữ liệu uy tín (Web of Science - WoS, hoặc Scopus) là thước đo khả tín nhất. Tuy nhiên, quy định hiện hành lại tạo ra một kẽ hở lớn khi cho phép sử dụng chỉ số H-Index một cách định tính, theo Google Scholar cũng được, theo ResearchGate cũng OK, lờ đi không kê khai cũng không sao, thậm chí Mẫu 03 còn được chua thêm cụm từ "(nếu có)" vào Mục 3.3. Điều này dẫn đến tình trạng "trăm hoa đua nở": ứng viên và cả thành viên hội đồng thi nhau khai H-Index từ Google Scholar hay ResearchGate để làm đẹp hồ sơ.
Sự khác biệt ở đây là rất rõ ràng: WoS/Scopus đề cao chất lượng, thống kê trích dẫn nghiêm ngặt từ các tạp chí uy tín, có cơ chế loại bỏ tự trích dẫn (self-citation) và quản lý chặt chẽ danh tính tác giả (Author Ambiguity). Trong khi đó, Google Scholar/ResearchGate quét tự động toàn mạng, bao gồm cả tài liệu chưa bình duyệt, bản thảo, dễ bị thao túng bởi trích dẫn chéo và tự trích dẫn, dẫn đến chỉ số này dễ bị "bơm thổi".
Việc các cơ quan quản lý "nhắm mắt làm ngơ" trước sự khác biệt này vô hình trung hạ thấp chuẩn mực khoa học quốc gia, thậm chí tạo ra nghịch lý nhiều thành viên hội đồng chuyên môn lại có năng lực công bố quốc tế (thể hiện qua H-Index) thấp hơn cả ứng viên mà họ đánh giá.
Hội đồng Nhà nước và sự lấn át của bộ máy hành chính: Về mặt chuyên môn và phẩm chất, các Chủ tịch các Hội đồng ngành/liên ngành tuyệt đại đa số đều là các gương mặt xứng đáng về năng lực, thành tựu khoa học và đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công vụ. Vấn đề nằm ở Văn phòng Hội đồng Giáo sư Nhà nước.
Về mặt pháp lý, Văn phòng chỉ là bộ phận giúp việc hành chính. Nhưng trong quản trị, cơ quan nắm giữ "đầu vào" của hệ thống dữ liệu, như một lẽ tự nhiên, sẽ dần hình thành nên một thứ quyền lực mềm. Dư luận cho biết, quá trình rà soát tính hợp lệ của hồ sơ đôi khi bị "nâng" từ "kiểm tra hành chính" sang "thẩm định nội dung" – một cách Văn phòng tự tạo cho mình quyền sinh quyền sát.
Thực tế này sinh ra các tiêu chuẩn kép: một hồ sơ có thể bị gạt bỏ ngay từ vòng đầu vì thiếu một minh chứng hành chính nhỏ, trong khi hồ sơ khác lại được châm chước và tạo điều kiện "cho qua". Hơn nữa, việc Chủ tịch Hội đồng Giáo sư Nhà nước dựa chủ yếu vào tham mưu của Văn phòng để bổ nhiệm ủy viên và chủ tịch các Hội đồng ngành/liên ngành dễ tạo ra cảm giác quyền lực bị tập trung vào khâu hành chính thay vì được quyết định bởi giới chuyên môn, hay "Văn phòng tự quyết là chính".
Đặt trong bối cảnh Luật Giáo dục Đại học 2025 đi vào thực thi, theo đó trọng trách quản trị và trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục đại học được đẩy lên mức cao nhất, mô hình vận hành quá trình xét duyệt GS, PGS càng bộc lộ rõ những mâu thuẫn.
Thứ nhất, mâu thuẫn với tinh thần tự chủ đại học: Trong một hệ thống giáo dục tiên tiến, quyền bổ nhiệm GS/PGS phải thuộc về các trường đại học dựa trên nhu cầu thực tế của họ. Việc duy trì một Hội đồng Nhà nước để "công nhận" vô hình trung duy trì cơ chế "xin – cho", làm triệt tiêu tính chủ động và trách nhiệm giải trình của các trường.
Thứ hai, sự nhầm lẫn giữa "danh hiệu" và "vị trí việc làm": Ở Việt Nam, danh xưng GS, PGS vẫn nặng tính phẩm hàm vĩnh viễn hơn là một vị trí công tác (Professorship) gắn liền với trách nhiệm dẫn dắt nghiên cứu tại một đơn vị cụ thể.
Thứ ba, sự hành chính hóa khoa học: Việc xét duyệt tập trung vào một đợt mỗi năm bằng các quy trình "đếm bài tính điểm" cứng nhắc làm mất đi tính thời điểm, cản trở việc thu hút nhân tài và làm thui chột năng lực kiến tạo tri thức giải quyết các bài toán thực tiễn phức hợp (như chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn, Net Zero) mà các địa phương, ngành và cả đất nước đang phải đối mặt.
Vượt thoát tư duy quản lý hành chính cũ kỹ
Hệ thống xét duyệt, công nhận và bổ nhiệm GS, PGS không thể tiếp tục là một cỗ máy vận hành theo tư duy quản lý hành chính cũ kỹ.
Sớm muộn gì, Hội đồng Giáo sư Nhà nước cũng phải có sự phân bổ lại quyền lực và chuyển từ vai trò "người gác cổng" hành chính sang cơ quan giám sát chất lượng và thiết lập hàng rào kỹ thuật quốc gia. Để làm được điều này, cần thực thi các bước đột phá:
Tái cấu trúc và bình duyệt đồng cấp Hội đồng ngành/liên ngành: Vì các lĩnh vực chuyên môn của chúng ta khá hẹp, hầu như các nhà khoa học có chút tiếng tăm ở mỗi lĩnh vực, dù trong Nam hay ngoài Bắc, đều biết nhau, thậm chí là thân quen nhau, do đó cũng dễ biết đến các "học trò" ứng viên của nhau. Điều này dễ tạo ra nhóm lợi ích, ưu ái người trong cùng trường/nhóm nghiên cứu, người thân quen.
Cần giải quyết tình trạng "cận huyết học thuật" này bằng cách thu gọn 28 hội đồng hiện tại thành 4-5 hội đồng, nhiều lắm cũng không nên vượt quá 12-13 HĐ theo các lĩnh vực KH&CN lớn, tính liên ngành cao (như Hội đồng liên ngành Khoa học Tự nhiên, Hội đồng liên ngành Kỹ thuật - Công nghệ, Hội đồng liên ngành Khoa học Sức khỏe, Hội đồng liên ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn). Việc đề cử chủ tịch và thành viên phải tuân thủ nguyên tắc bình duyệt đồng cấp, do cộng đồng các nhà khoa học quyết định dựa trên các chỉ số minh bạch (chỉ chấp nhận WoS/Scopus).
Số hóa và "mù hóa" hồ sơ ứng viên: Áp dụng triệt để công nghệ thông tin trong phân loại hồ sơ và phân bổ về các hội đồng ngành/liên ngành cũng như việc xác định người phản biện phù hợp với từng hồ sơ. Việc chọn phản biện cần thực hiện ngẫu nhiên bằng thuật toán từ cơ sở dữ liệu chuyên gia, triệt tiêu bàn tay can thiệp có chủ đích của con người ở khâu hành chính, đảm bảo sự công bằng tuyệt đối ở tất cả các cấp hội đồng.
Chuyển đổi sang mô hình tự chủ bổ nhiệm: Đây là giải pháp căn cơ nhất. Chỉ nên xem Hội đồng ngành/liên ngành như những chuyên gia cố vấn độc lập, cung cấp báo cáo đánh giá chuyên sâu. Khi năng lực tự chủ của các đại học được đảm bảo, Nhà nước cần trao toàn quyền tuyển dụng, trả lương và đánh giá chức danh cho các cơ sở giáo dục đại học thông qua các KPIs rõ ràng.
Sự cạnh tranh thu hút nhân tài giữa các trường sẽ là "bàn tay vô hình" điều chỉnh chất lượng học thuật một cách sòng phẳng và thực chất nhất. Và nhờ thế, cơ sở giáo dục đại học và nhà nước sẽ tuyển chọn được người thực tài thay vì chọn được người "quen biết" hay người chỉ biết phục tùng.
Trước nhiệm vụ thực thi Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh công tác khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, yêu cầu bức thiết đặt ra là khoa học phải giải quyết được những bài toán thực tiễn của quốc gia. Một nhà khoa học không thể chỉ được vinh danh bằng số lượng bài báo công bố quốc tế hay chỉ số H-Index, mà còn cần và phải được đánh giá qua năng lực dẫn dắt các nhóm nghiên cứu mạnh, tạo ra giá trị thặng dư, thúc đẩy chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và kinh tế tuần hoàn.
Tiêu chuẩn đánh giá phải đủ đa dạng để tôn vinh cả những nghiên cứu cơ bản mang tầm quốc tế lẫn những đóng góp thiết thực cho địa phương, cho ngành, cho miếng cơm manh áo hàng ngày của người dân.
Đồng thời, quán triệt tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về Đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, quản trị đại học phải hướng tới sự tự chủ toàn diện và trách nhiệm giải trình minh bạch. Việc chuyển đổi từ cơ chế "xét duyệt - công nhận" cấp Nhà nước sang cơ chế "tuyển dụng - bổ nhiệm" tại các cơ sở giáo dục đại học là một yêu cầu mang tính thời đại. Thay vì thực hiện "tiền kiểm" hồ sơ mang nặng tính hành chính, quản lý nhà nước cần chuyển sang vai trò "hậu kiểm", kiến tạo khung pháp lý và kiểm định độc lập.
Trả danh xưng Giáo sư về đúng bản chất là một vị trí công tác gắn với sứ mệnh học thuật, trao quyền tự chủ thực chất cho các đại học chính là bước đi mang tính quyết định. Chỉ khi tháo gỡ được điểm nghẽn thể chế này, đội ngũ trí thức cấp cao của Việt Nam mới thực sự phát huy được sức sáng tạo, trở thành động lực nòng cốt đưa giáo dục đại học và nền khoa học nước nhà tiến lên trong kỷ nguyên mà "Con đường phát triển của Việt Nam không thể tách rời xu thế chung của thế giới và nền văn minh nhân loại".
- Cần mạnh dạn rũ bỏ tư duy 'phẩm hàm trọn đời'
---
[1] Phát biểu chính sách của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Trường Chính sách công Lý Quang Diệu. Nhân Dân, 12/3/2025. https://nhandan.vn/special/Tong-Bi-thu-To-Lam-tai-Truong-Chinh-sach-cong-Ly-Quang-Dieu-Dai-hoc-Quoc-gia-Singapore/index.html?utm_source=chatgpt.com