Bát Tràng, với lịch sử hơn 700 năm sản xuất gốm sứ, là một không gian lưu giữ những tri thức và kỹ thuật được bồi đắp, truyền thừa qua nhiều thế hệ, từ tạo hình, phối men đến nung gốm. Cùng với đó là những tập quán văn hóa và tinh thần sáng tạo đã làm nên bản sắc riêng của làng nghề.
Tuy nhiên, Bát Tràng đang đứng trước bài toán làm sao vừa gìn giữ kinh nghiệm và bí quyết của các nghệ nhân, vừa đổi mới quy trình sản xuất theo hướng hiện đại, bền vững để đáp ứng nhu cầu phát triển và đưa các sản phẩm gốm sứ vươn xa hơn trên thị trường quốc tế.
Làm gốm ở Bát Tràng. Ảnh: Shutterstock
Trong đó, vấn đề đầu tiên là lò nung, theo chia sẻ của ông Ngô Quốc Trịnh - Phó Trưởng phòng Kinh tế, Ủy ban Nhân dân xã Bát Tràng - tại hội thảo do Viện Công nghệ Năng lượng tổ chức vào ngày 10/10 nhân kỷ niệm 70 năm thành lập Đại học Bách khoa Hà Nội. Một trong những mục đích chính của hội thảo là lắng nghe ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp để phát triển những sản phẩm công nghệ có khả năng giải quyết hiệu quả các bài toán thực tiễn của sản xuất và đời sống.
Cụ thể, ông Ngô Quốc Trịnh cho biết, công đoạn nung vốn quyết định toàn bộ chất lượng và giá thành sản phẩm của các hộ làm gốm sứ ở Bát Tràng đang bộc lộ khá nhiều bất cập.
Toàn xã hiện có khoảng 1.000 lò nung gas và 200 lò nung điện. Cả hai loại lò này đều bộc lộc những hạn chế riêng: lò gas tốn nhiên liệu, khó kiểm soát khí thải; còn lò điện lại chỉ cho phép nung mẻ nhỏ, tiêu thụ lượng điện lớn và hạn chế kỹ thuật nung khử để làm ra một số màu men truyền thống. Về chi phí năng lượng, với một lò gas có thể tích 10 m³, mỗi mẻ "ngốn" khoảng 17 triệu đồng tiền gas. Lò điện, dù thể tích chỉ 1 m³, cũng tiêu tốn đến 1,5 triệu đồng tiền điện mỗi mẻ.
Vấn đề tiếp theo là rác thải. Sau mỗi mẻ nung, sản phẩm lỗi (chiếm khoảng 5%) cùng các vỏ khuôn, thanh kê, con kê bị hỏng trở thành rác thải. Cộng với lượng chất thải rắn đáng kể trong các công đoạn sản xuất khác, khối lượng rác cần xử lý tại Bát Tràng rất lớn, trong khi làng nghề chưa có giải pháp công nghệ phù hợp. "Xã Bát Tràng đã được thành phố phê duyệt hai địa điểm tập kết rác thải rắn nhưng chưa có công nghệ xử lý. Do vậy, rác thải tại đây đang bị ùn ứ, người dân không còn chỗ đổ, nhiều lúc đổ ra cửa sông", ông Ngô Quốc Trịnh cho hay.
Liên quan đến chất lượng sản phẩm, hiện nay việc xử lý kim loại nặng trong nguyên liệu gốm và men gốm như chì, cadimi chưa tối ưu, khiến cho việc tiếp cận thị trường châu Âu còn trở ngại.
Một vướng mắc khác là nghệ nhân vẫn lúng túng khi có những đơn hàng lớn, cần hoàn thành gấp. Do đó, cần có các công nghệ hỗ trợ - chẳng hạn công nghệ dựng hình, tạo mẫu - giúp nghệ nhân đẩy nhanh quá trình thiết kế và chế tác.
Trước thực tế đó, đại diện xã Bát Tràng đề xuất bốn hướng nghiên cứu cần các nhà khoa học hỗ trợ. Thứ nhất, chế tạo lò nung hybrid kết hợp điện và gas, giúp sử dụng năng lượng hiệu quả, giảm ô nhiễm khí thải và hạn chế sản phẩm lỗi. Thứ hai, phát triển công nghệ xử lý, tái chế chất thải rắn phát sinh trong quá trình sản xuất. Thứ ba, tìm giải pháp giảm hàm lượng chì, cadimi trong nguyên liệu và men gốm. Cuối cùng là ứng dụng công nghệ số vào thiết kế, tạo mẫu 3D và xây dựng hộ chiếu số cho sản phẩm.
Công đoạn tạo hình gốm trên bàn xoay. Ảnh: Shutterstock
Quan trọng không kém, việc đổi mới công nghệ cần phù hợp với điều kiện thực tế của làng - từ khả năng đầu tư, mặt bằng sản xuất đến nguồn vốn và chi phí vận hành. Đồng thời, công nghệ phải hỗ trợ người làm gốm giữ được màu men và các dòng sản phẩm truyền thống đặc trưng của Bát Tràng. "Khoa học và công nghệ không thay đổi bàn tay và khối óc của các nghệ nhân, mà là bệ đỡ vững chắc để tinh hoa gốm sứ nghìn năm tiếp tục vươn xa," ông Ngô Quốc Trịnh bày tỏ.
"Chúng tôi rất mong có sự hợp tác giữa ba nhà - nhà nước, viện/trường, doanh nghiệp - để làm sao từ nghiên cứu, chuyển giao đến ứng dụng vào thực tế đều đạt hiệu quả cao", ông Ngô Quốc Trịnh kỳ vọng rằng việc sử dụng công nghệ của Việt Nam vừa giúp giảm giá thành, vừa thuận tiện cho công tác duy trì và bảo dưỡng.
Tại Hội thảo, Viện Công nghệ Năng lượng cho biết đã nắm được thông tin thực tiễn và nhu cầu hợp tác của làng nghề Bát Tràng. Các hướng đề xuất này cũng nằm trong phạm vi nghiên cứu mà Viện quan tâm. Đây sẽ là cơ sở để Viện và các đối tác tiếp tục trao đổi, xác định những nội dung phối hợp phù hợp trong thời gian tới.
Trong đợt cao điểm 100 ngày tháo gỡ các điểm nghẽn về chuyển đổi số, xã Bát Tràng cũng đã đề xuất bốn nhiệm vụ này để các nhà khoa học nghiên cứu, hỗ trợ làng nghề.
Trong đó, đề xuất nghiên cứu, chế tạo lò nung hybrid, kết hợp giữa điện, gas và ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo của xã Bát Tràng đã được Sở KH&CN Hà Nội phê duyệt, và Viện Công nghệ năng lượng sẽ là một trong những đối tác nghiên cứu giải pháp để ứng dụng, chuyển giao công nghệ.