Thời thuộc địa, gắn với sự bùng nổ của in ấn và xuất bản cũng như sự trỗi dậy của một văn tự quốc gia mới mang tính hiện đại là chữ quốc ngữ. Các thể loại văn chương hương xa "truyện đường rừng" và du ký được đẩy mạnh, vừa thỏa mãn tinh thần phiêu lưu, chuộng lạ của Đông Dương, vừa mang tính giật gân, câu khách của sản xuất kinh tế báo chí. Những bài báo về chủ đề ma cà rồng – một sản phẩm niềm tin của những người nói tiếng Tai (với Thái và Tày, Nùng là những đại diện lớn nhất) đã ra đời trong không khí thời đại như thế.
Ma cà rồng từng được định nghĩa trong từ điển là "thứ ma ở miền Thượng-du xứ Bắc-kỳ". Ảnh minh họa: Một cánh rừng ở Tà Xùa, Sơn La. Tác giả: Trần Văn Linh / VnExpress
Lần theo dấu ma cà rồng, một cách tự nhiên, bóng ma đã dẫn tôi vào xử lý các dòng ghi chép dân tộc chí trung đại. Từ đó, có một vấn đề trọng yếu phát sinh: vì sao các học giả trung đại lại phiên âm và ghi chép về bóng ma này trong thư tịch như: ma cà rồng [茄蠬鬼 / 茄魔], ma cà rằng [奇䗀鬼] hoặc ma càn sùng [乾崇鬼]. Qua tìm hiểu, tôi nhận thấy, các học giả trung đại đã mượn cách gọi "cà rồng" của chính những người bản địa để phiên âm loại người/ma hút máu này thành các tên Hán – Việt và tên Nôm quen thuộc với chúng ta ngày nay.
Nhưng phải đến những năm 1930, sự kiện ma cà rồng mới thực sự xuất hiện dày đặc trong xã hội Việt Nam khi được đưa vào từ điển, như Việt-Nam tự-điển của Hội Khai Trí Tiến Đức có mục từ: "Ma cà-lồ hay ma cà-rồng. Thứ ma ở miền Thượng-du xứ Bắc-kỳ; người miền ấy tin rằng ma ấy phụ vào người, thường đi hút máu người ta."[1]
Sự đa dạng và phong phú của chủ đề ma cà rồng
Để bạn đọc có một hình dung sự phổ biến của thông tin về ma cà rồng thời thuộc địa, gắn với sự bùng nổ của tri thức báo chí và quyền lực in ấn, tôi dẫn ra đây vài nguồn đáng lưu chú ý:
Thực nghiệp dân báo, số 2483 [6/3/1929] có bài nhỏ độ hơn 100 chữ của D.C tên Truyện ký ma cà rồng, cho biết vắn tắt mạn ngược có giống Mán độc, tên ma cà rồng, ban ngày làm ăn như người thường, đêm đến xỏ chân lỗ mũi bay đi tìm ăn máu mủ con người. Giống Mán này cũng có tục nuôi trùng độc sai đi hút máu người [2]. Bút ký của D.C chưa có sự tiến triển về tri thức so với thời trung đại.
Ma cà rồng trên Hà Thành ngọ báo, 29/4/1931. Ảnh: NMT
Hà Thành ngọ báo, 29/4/1931, mục "Ngó qua lên rừng xanh" có đăng bài: Chuyện ma cà rồng ở Mai Sơn (Sơn La) của tác giả Tiến Lương. Đây là một bài khá quan trọng, không hẳn vì thông tin cơ bản về ma cà rồng nó cung cấp, thực chất không có mấy đột phá so với tri thức trung đại, mà quan trọng, bài báo đã cung cấp một cấu trúc kể ổn định về sự kiện ma cà rồng sẽ được các ấn phẩm quan trọng khác về ma cà rồng thời thuộc địa như của Việt Sinh Nguyễn Văn Võ hay Vũ Bằng lặp lại.
Đáng chú ý, trên Thực nghiệp dân báo, số 3396 [13/4/1932], ở mục "Ngó thử rừng xanh", ký giả V.S có bài "Các thứ ma rừng" bàn về Phi Póp, một biến thể của ma cà rồng. Đến kỳ tiếp theo [14/4/1932], khi bàn tiếp về ma cà rồng, tác giả không còn viết tắt là V.S nữa mà ký rõ Việt Sinh.
Ma cà rồng trên Thực nghiệp dân báo, số 3397 – 14/4/1932. Ảnh: NMT
Tiếp tục nhiều kỳ trên Thực nghiệp dân báo, Việt Sinh còn biên khảo về nhiều giống ma của thượng du người Lào, thành một chuỗi biên khảo. Nội dung của các bài báo này sẽ có nhiều điểm lặp lại trong chính tập sách mỏng Chuyện đường rừng Ma cà rồng. [Các tác giả cận đại có xu hướng viết "chuyện đường rừng" thay vì "truyện đường rừng", những chỗ nào viết "chuyện đường rừng" là đang dẫn lại nguyên văn cách viết các tác giả cận đại.] Trong đó, đáng chú ý có phần viết về Phi tu sửa – ma giữ làng, bảo vệ dân làng, gia súc.
Phi tu sửa ở vùng người Lào trong mô tả của Việt Sinh có khi hiện ra như con người, nhất là đêm thanh vắng. Đặc điểm của Phi tu sửa là trên đầu có hai mảnh gì đó độ hơn 1 thước ta (khoảng 40 cm), mở ra úp vào, mỗi lần như thế ánh sáng xanh trong đó lọt ra. Ma này ở rừng cấm, không hại người, trừ khi người xúc phạm ma (Thực nghiệp dân báo, số 3408 – 27/4/1932, kỳ vii). Hiện ra dưới hình dạng con người, có ánh sáng xanh lập lòe, Phi tu sửa làm cho chúng ta liên tưởng đến các đặc điểm của ma cà rồng.
Chính những tính chất nhập nhằng, ít nhiều giống nhau giữa các loại ma vốn vô cùng phức tạp ở miền núi trong vùng những người nói tiếng Tai hiện ra dưới hình dạng con người càng làm cho diện mạo ma cà rồng trở nên phức tạp bởi sự lẫn nghĩa, chồng đè nghĩa lên nhau.
Bài báo dài kỳ này của Việt Sinh, một báo cáo về các giống ma xứ Thái (vùng thượng Lào), gợi nhắc đến các bài báo quan trọng về chủ đề này in trên Journal of the Siam Society hồi đầu thế kỷ XX [3].
Hà Thành ngọ báo, số 2243, 21/2/1935, đăng bài "Chuyện đường rừng: Ma cà rồng" của Nguyễn Huy Khanh. Bài báo kể về việc tác giả bắt gặp một người mũi đỏ ngồi cúng trong đêm khuya, khiến tác giả liên tưởng đến ma cà rồng.
Theo "trải nghiệm" của Huy Khanh, ông thấy người đàn ông đó niệm chú, hú hét rồi đút chân vào lỗ mũi bay vù đi. Sợ quá, tác giả bài báo thiếp ngủ gục, sáng mai, bò ra từ chỗ nấp, nghe người đi đường nói chuyện đêm qua có một cụ bà bị ma cà rồng vật chết!
Bài báo này, dưới trình thuật "quan sát tận mắt" nhưng thực chất không hề khả tín. Việc xem cà rồng như một kiểu phù thủy, biết thuật pháp, với bài niệm chú biến hình bay đi trước bàn thờ có lá bùa, bát nhang cho thấy, tự sự này khá xa lạ với các truyền thống cà rồng từng được biết đến xưa cũng như nay ở các nhóm nói ngôn ngữ Tai-Kadai. Bản kể của Nguyễn Huy Khanh có ít giá trị dân tộc học, trái lại, nó chỉ cho phép chúng ta nắm bắt sự tùy tiện, dễ dàng bịa đặt, thứ rất dễ kích hoạt khi kể về các sự kiện cà rồng cũng như ma quỷ.
Trên Thực nghiệp dân báo, tác giả Nam Hải, dường như là một thầy giáo mạn ngược, có viết hai bài: "Chuyện đường rừng: Tôi đưa các ngài đi bắt ma" (số 111, 2/8/1933), và "Chuyện đường rừng... Lại nói chuyện ma" (số 112, 3/8/1933).
Ở bài thứ nhất, Nam Hải tả ma cà rồng như thực thể chui ra từ mũi người, bằng độ nắm tay, sau đó con ma mini ấy lại đút chân vào mũi bay đi tìm ăn. Bài báo của Nam Hải quả nhiên có nhiều giá trị phong tục, phản ánh tương đối chính xác niềm tin của người Thái về sự kiện ma cà rồng như thích ăn bẩn, ăn gan người, hại người chết.
Để chống ma cà rồng khi nó đã làm hại, uống thuốc tất không xong mà phải mời ông mo. Còn để phòng ma cà rồng thì dùng dao đã được yểm bùa phép, nhà cửa giữ cho sạch sẽ... Cà rồng nhỡ may đi ăn mà bị bắt gặp thì sẽ cầu xin đừng tiết lộ danh tính mà mua chuộc bằng nữ trang, vàng bạc để đổi lấy sự im lặng [4].
Nam Hải truyền kinh nghiệm bắt ma bằng cách dùng khăn mặt ướt, tẩm nước gạo, gặp trâu, bò, lợn, gà cụt đuôi lao về phía mình thì đừng sợ. Bình tĩnh lấy khăn ướt, quất mạnh về phía ngược lại với người nó (người của nó mà ta thấy thực ra là cái bóng hiện lên mà thôi), làm thế cà rồng ắt hiện hình. Khi nó van xin, phải nhớ tha cho nó, giữ kín chuyện, vì lộ ra thì xấu bằng mấy tiếng đĩ điếm dưới trung châu, chả có ai thèm lấy làm chồng! Nam Hải rất thú vị khi thú thực, hai năm đi lùng ma nào có thấy đâu, nếu thấy, chắc ông cũng lột của nó được ít nữ trang, được thế thì thật tiện bề về đồng bằng mà cua gái, lấy vợ.
Đến bài thứ hai, Nam Hải nhấn mạnh trở lại ma cà rồng chẳng qua là tưởng tượng hoang đường con người ta sợ quá cứ phóng đại lên mà kể, thế thôi, nhưng có điều là nó làm khiếp sợ người dưới xuôi. Nam Hải khẳng định Nghĩa Lộ chỗ ông ở, ông biết không có ma cà rồng, vì cứ nghe kể thế thôi chứ chưa thấy, chưa gặp bao giờ. Nam Hải quả nhiên rất khác biệt, óc phê phán của ông với bóng ma này khiến ta nhớ đến Phạm Thận Duật gần một thế kỷ trước ông cũng từng có nhiều phản tỉnh và phê phán các dữ kiện cà rồng.
Nam Hải, trong hai bài báo về cà rồng, trình lại những niềm tin truyền khẩu về bóng ma này khá đúng với phong tục và tưởng tượng của người Thái, nhưng cuối cùng, ông không tin, bằng chính trải nghiệm cá nhân chẳng bao giờ gặp dù cố công tìm kiếm chứ không phải chỉ là một sự duy ý chí thuần túy.
Trên tờ Khoa Học có bài "Con Ma cà rồng" của Hữu Sào (số 196, 15/8/1938), đăng trong mục "Chuyện khoa học". Bài báo kể về một người miền xuôi, làm lính mạn ngược ở Mường Lò, Bảo Hà, bị quy là ma cà rồng, mọi người ghê sợ mà tránh. Theo niềm tin truyền tụng, người cà rồng thì xanh xao, nhợt nhạt, truyền đường máu, đêm đến hồn người xuất ra, đút chân lỗ mũi bay đi kiếm ăn. Nhưng sự thực khi về xuôi, các bác sĩ xét nghiệm thì biết được chẳng qua bác ta bị sốt rét mà thôi. Hữu Sào từ đó kêu gọi nên bác cái thuyết cà rồng nhảm nhí. Cà rồng hút máu đó chính là giống muỗi hút máu mà truyền sốt rét mà thôi.
Sử dụng khoa học để giải thích cà rồng, bài báo ngắn của Hữu Sào nằm trong lịch sử diễn giải cà rồng theo cái nhìn duy khoa học vốn rất phát triển trên thế giới và cả Việt Nam cận đại.
Trên Trung Bắc chủ nhật, Hà Nội, số 53 (23/3/1941), số 54 (30/3/1941), số 55 (6/4/1941), số 56 (13/4/1941), số 57 (20/4/1941) có bài dài kỳ Ma Cà-rồng của nhà báo nổi tiếng Vũ Bằng viết chung với Nguyễn Xuân Khôi.
Một kỳ Ma cà rồng trên Trung Bắc chủ nhật - số 54 (30/3/1941). Ảnh: NMT
Đáng chú ý, trong bài báo dài kỳ này có thông tin: "Độ vào khoảng mươi mười hai năm trước đây, một bạn ở trên thượng du đã viết rõ về giống này. Tiếc thay, sách đó lại hết, hiện bây giờ khó mà kiếm được". Căn cứ vào thời gian độ mươi năm trước và chi tiết "sách đó lại hết", tôi đoán định "bạn ở trên thượng du" đó là công chức ở miền núi Việt Sinh Nguyễn Văn Võ và sách đã hết đó chính là cuốn Ma cà rồng. Bởi cho đến giờ, với hiểu biết cá nhân, không kể các bài báo, dưới dạng sách về ma cà rồng thời thuộc địa chỉ duy nhất có ấn bản sách của Việt Sinh - người tôi vẫn lấy làm tiếc đã không có thông tin về nhân thân - mà thôi. Sự kiện xuất bản "sách đó lại hết, hiện bây giờ khó mà kiếm được" cho thấy ấn phẩm của Việt Sinh có thể đã từng được bán khá chạy.
Đồng thời, việc chục năm sau Vũ Bằng vẫn quay lại chủ đề ma cà rồng với biên khảo dài kỳ cho biết mối quan tâm và sự hấp dẫn của bóng ma này trong tưởng tượng của người đồng bằng.
Bài báo của Vũ Bằng và cả Tiến Lương trước đó, nếu so với nội dung và sự hấp dẫn của ấn bản Ma cà rồng của Việt Sinh Nguyễn Văn Võ thì có một sự chênh lệch đáng kể. Không có một sự kiện nào trong lịch sử kể về ma cà rồng ở miền núi phía Bắc Việt Nam có thể so sánh được với ấn phẩm của Việt Sinh, cả trung và cận đại. Có thể nói, thời cận đại, các ấn phẩm đã có về ma cà rồng, ít nhiều khác biệt về mặt tri thức tưởng tượng, ở những chi tiết nhỏ nhặt, còn tổng thể, tất cả đều đã được Việt Sinh "tập đại thành" trong quyển sách quan trọng về ma cà rồng của ông.
Ma cà rồng của Việt Sinh Nguyễn Văn Võ, số 2/1933. Ảnh: NMT
Cần phải nhấn mạnh tác phẩm của ông, như ông trình bày, là một ấn phẩm khoa học chứ không phải tiểu thuyết. Sở dĩ ấn phẩm ấy mang tên "thể loại chuyện đường rừng" vì đúng như Việt Sinh bộc bạch, là một tác phẩm khoa học nhưng được viết theo lối truyện đường rừng để cho thêm phần hấp dẫn bạn đọc.
Đến cuối sách, ông nhấn mạnh trở lại, dù kể chuyện ma nhưng thực chất là "chuyện thật cả" - tên bản, tên người, tên sự kiện, mốc thời gian đều được biên cụ thể. Luôn có ý thức đặt vấn đề sự chân thực của sự kiện ma cà rồng lên cao, ngay mở đầu sách, Việt Sinh nhấn mạnh "cội nguồn tri thức" của sách gồm cả chục năm trải nghiệm miền núi của chính ông trong tư cách công chức ở Thượng Lào và vùng Sơn La. Cộng thêm vào đó là tri thức của người bạn ở Sơn La hiệu là Minh Khôi đã kê cứu vấn đề này đến 20 năm. Tác giả còn được thù tiếp với quan đại nhân Cầm Văn Oai [5], người có biệt tài bắt ma cà rồng, hiểu hơn hết về giống ma này, được ngài trao truyền tri thức và khuyến khích viết thành sách. Những dẫn giải nguồn gốc "chân thực" "khả tín" của tri thức ấy tạo nên điểm tựa, cơ sở về tính hợp pháp và quyền uy tri thức mà ấn phẩm Ma cà rồng của Việt Sinh được tạo dựng.
Thực chất điều này, cũng giống với các trần thuật về ma cà rồng tương tự, như của Tiến Lương hay Vũ Bằng, tất cả đều cố gắng tạo dựng tính thực cho truyện kể thông qua nhân chứng, vật chứng và trải nghiệm sự kiện. Tuy thế, so với quyền uy tri thức của Việt Sinh, một công chức có hàng chục năm ở miền núi, lại ở giữa tâm vùng đất ma cà rồng như Mai Sơn, gặp gỡ những con người có quyền lực tri thức cao nhất về vấn đề này như Cầm Văn Oai, không một tác giả nào về chủ đề này ở thời cận đại có thể so sánh.
Đẩy xa hơn nữa, tạo nên vòng tròn khép kín về quyền lực tri thức ma cà rồng, trước khi kết sách, Việt Sinh lại nhấn mạnh lần nữa về tính chính xác, người thực việc thực của sự kiện ma cà rồng. Đáng chú ý, ông muốn vấn đề này cần được đặt ra như một vấn đề khoa học nghiêm cẩn, nghiên cứu một giống người mới mà có lẽ nhân loại chưa từng biết đến mà "dễ thường chỉ có một nước Đại Cồ Việt ta mới có", như một kiểu di sản bản sắc dân cư, mà nếu vấn đề này được kê cứu đến nơi đến chốn thì có khi là đóng góp cho cả nhân loại "để cho khoa học giới được thêm một hiện tượng mới mẻ để điền vào bộ khoa học từ điển một cái tên lạ nữa vậy"!
Và sau hết, ông muốn tiến cử vấn đề khoa học này đến ông Nguyễn Công Tiễu – một khoa học gia theo tinh thần thực nghiệm phương tây rất có uy vọng đương thời, chủ bút tờ Khoa học Tạp chí. Sự kiện này cho thấy niềm tin của Việt Sinh, một niềm tin ngây thơ nhưng không thiếu phần chân thành và mãnh liệt vào điều ông mà ông đã kể và muốn thuyết phục người đọc tin vào điều ấy.
Niềm tin vào ma cà rồng là có thật, chắc chắn, là niềm tin có một sức sống mãnh liệt trong tâm hồn người Kinh ở đồng bằng và chính trong cộng đồng thiểu số ở miền núi. Không có một bản kể nào từ thời cận đại trở về trước mà chúng ta có được bài bác niềm tin này, trái lại, tất cả đều khẳng định vào tính chân thực của sự kiện ma cà rồng.
Ở miền Nam, tờ Nam Kỳ tuần báo có "Phóng sự về Thổ, Mèo, Mường, Mán và Mọi ở miền thượng du Bắc Kỳ" của Ngọc Ước (số 75, 16/3/1944). Bài báo thú vị vì nó được sản xuất ở phương nam xa xôi, phổ biến các tưởng tượng về bóng ma cà rồng ở thượng du Bắc Việt đến các cư dân phương Nam, nơi cũng có các sự kiện cà rồng, nhưng với các chi tiết kiểu khác và cũng có độ phong phú không kém.
Bài báo có một đoạn ngắn về cà rồng, khá tương hợp và sát thực với các tưởng tượng cà rồng ở vùng Thái miền Bắc. Riêng sự kiện đàn bà Thổ sinh đẻ cẩn thận chôn giấu cuống nhau trẻ, sợ bị cà rồng ăn mất thì không toàn mạng là có chút khác biệt, ít được nói tới, nhưng không phải không có cơ sở về phong tục học.
Nỗi sợ "ma thiêng" ngăn cản bước chân khai khẩn miền thượng du?
Các tự sự thời cận đại về ma cà rồng, như thế, có diện mạo khá sôi động. Đây là khoảng thời điểm quan trọng của Việt Nam khi người Kinh/Việt ở châu thổ phát hiện ra núi non thông qua văn chương và báo chí. Sản xuất tri thức về ma cà rồng tăng vọt, phần trình thuật ở trên, chắc chắn là thiếu sót. Dù sao chừng ấy dẫn liệu cũng đủ để cho chúng ta một điểm tựa chất liệu để hình dung về tưởng tượng cà rồng xứ Thái thời cận đại.
Điểm chụm của khối tư liệu cà rồng thời thuộc địa hiện lên một trục kể khá ổn định. Từ bài báo của Tiến Lương đến sách của Việt Sinh và về sau là bài báo của Vũ Bằng, những bài báo vào loại quan trọng hơn cả, về cơ bản đều có một cấu trúc kể khá tương đồng. Mở đầu là sự nhấn mạnh tính chân thực của sự kiện kể thông qua cách các tác giả trưng dẫn các bằng chứng nhằm chứng minh cho tính chân thực về cội nguồn tri thức được kể như là trải nghiệm thực tế, tiếp xúc, lấy nguồn từ người thực việc thực. Sau đó, là thông tin đại quan về ma cà rồng với đặc điểm hình thể, ma thuật, tính cách... Cuối cùng, là một vụ A, B, C... nào đó bắt ma, khảo ma, xét hỏi ma khiến ma phải hiện hình. Chính cấu trúc kể tương đồng này có sự đồng dạng, nâng cấp từ các phiên bản kể trung đại [6], cho dù, không một tác giả nào thừa nhận điều đó.
Nỗi sợ hãi ma quỷ của người Kinh/Việt, vì thế, có căn cước gắn rất xa xôi từ trong quá khứ lịch sử cũng như duy trì khá ổn định trong dòng thời gian. Miền núi hiện ra như tưởng tượng "ma thiêng nước độc", "lam sơn chướng khí" hoặc như sử chí trung đại thường nhấn mạnh "ma châu Mộc độc châu Mai" thì đầu bảng có lẽ là nỗi sợ đúng như từ điển hội Khai Trí Tiến Đức tổng kết ở trên, hay khác một chút, Việt Sinh Nguyễn Văn Võ chỉ rõ: "Xưa nay bà con dưới Trung-châu vẫn sợ ma thiêng nước-độc, tiếng gọi ma-thiêng có ngụ ý sợ giống ma-cà-rồng, ma-chài và ma-gà làm hại đến tinh-mệnh, cho nên đành chịu chen chúc nhau ở chỗ đất người nhiều ruộng hiếm, chứ không dám lên khai-khẩn trên miền thượng-du".
Viết về ma cà rồng, nhất là các phương cách phòng chống và điều trị, khắc chế ma cà rồng, Việt Sinh hay các tác giả cùng chủ đề có ý tưởng sẽ phá bỏ nỗi sợ thâm căn cố đế trong tâm thức Kinh/Việt. Phải vượt qua nỗi sợ "ma thiêng" miền núi thì người ta mới dám thực hiện công cuộc thực dân hóa nội địa, đẩy bước chân người trung châu vốn đang đối mặt với nạn nhân mãn lên vùng núi đồi của người thiểu số. Giải nỗi sợ cà rồng, như thế, thật bất ngờ nằm vào điểm chính giữa bức tranh về cuộc thực dân hóa Kinh/Việt lên vùng miền núi.
---
Chú thích:
1. Ban Văn học Hội Khai Trí Tiến Đức khởi thảo (1931), Việt-Nam tự-điển, Hanoi: Imprimerie Trung-Bac Tân-Van
2. Mán trong văn cảnh này chỉ người miền núi nói chung. Đoạn này, dù không được chỉ rõ nhưng nội dung của nó gần hơn cả với truyền thống ma cà rồng ở các nhóm Nùng, nơi có niềm tin nuôi cà rồng trong chum, hay trong một góc bí mật trong nhà.
Tục nuôi trùng độc là một chủ đề rất rộng lớn, ví dụ, ở tây bắc có ở nhiều tộc người, nổi tiếng ở các thầy cúng Khơ Mú cao tay mà thầy cúng Thái cũng phải kiêng nể.
3. A. J. Irwin (1907), "Some Siamese Ghost-lore and Demonology", Journal of the Siam Society, 4(2); Phya Anuman Rajathon (Edited by Margeret Coughlin) (1954). "The 'Phi'." Journal of the Siam Society, 41, no. 2.
4. Chi tiết này giống sự kiện tôi ghi được về chuyện người gặp ma cà rồng ở Chiềng Sinh Điện Biên, để đổi lấy im lặng, cà rồng cho hai người phát hiện hai đồng bạc đông dương.
5. Cầm Oai hay Cầm Bun Oai, Cầm Văn Oai, con trai Cầm Văn Thanh, thay cha làm thủ lĩnh châu Mường Mụa khi người Tây tiến vào chiếm đất Thái (1890), năm ấy ông 14 tuổi. Cầm Văn Oai qua đời năm 13/3/1933. Được sử Thái mô tả là một người gan góc, sử gia có người cung cấp thông tin về ông như người thông tuệ, đầy tham vọng và đặc biệt "chăm đọc các tờ công báo". Chính điều này, hé mở mối quan hệ của ông với các ký giả miền xuôi. Là một thủ lĩnh Thái quan trọng của ngành Thái Đen, Cầm Oai có uy quyền của một ông vua Thái Đen Tây Bắc. Quyền uy lớn lao của ông được người dân Thái thêu dệt trong những tưởng tượng folklore như người có thần quyền, có tài hàng phục muông thú, điều khiển thú dữ. Tuy nhiên, folklore Thái không nói ông có tài trị ma cà rồng, quyền năng này, chỉ thấy được ghi nhận ở các ký giả người Kinh.
6. Nguồn thông tin về cà rồng trung đại nằm trong các trước tác của Cao Hùng Trưng, Lê Quý Đôn, Hoàng Bình Chính, Trương Quốc Dung, Phạm Thận Duật và Đại Nam nhất thống chí.