Làm linh kiện cho những thương hiệu lớn như Honda, Toyota hay Triumph, nhưng khi tìm nguyên liệu đầu vào, chị Lê Thị Ngọc Lan, Phó Giám đốc LeGroup cho biết mình không có nhiều lựa chọn trong nước. "Có lẽ chỉ có inox là có thể mua được trong nước thôi", chị Lan nhẩm tính trong cả trăm nhà cung cấp vật liệu cho công ty.
Phần lớn những nguyên liệu còn lại, từ thép chất lượng cao, nhôm dập, nhôm tấm, hóa chất đến một số bộ phận chuyên dụng, đều phải nhập khẩu. "Trung Quốc có sẵn gần như mọi loại nguyên liệu, đặc biệt là những loại Việt Nam đang thiếu. Họ không phải nhặt nhạnh mua như mình", chị Lan nói với phóng viên Tia Sáng.
Tình trạng này không chỉ xảy ra ở một doanh nghiệp. Đại diện Phương Trang TMS, nhà cung cấp phôi thép có thị phần lớn ở miền Bắc, cho biết thép sản xuất trong nước hiện chưa đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật cao trong chế tạo linh kiện cơ khí chính xác.
Anh Lê Văn Hiếu đang trao đổi với một doanh nghiệp khác về các loại thép có độ bền, độ dẻo dai và khả năng chịu tải trọng cơ học cao, tại Triển lãm Giao thương Quốc tế Ngành Chế tạo - FBC ASEAN 2026. Ảnh: Ngô Hà
"Mặc dù có hàng chục doanh nghiệp sản xuất thép trong nước, nhưng đó toàn là thép xây dựng hoặc thép kết cấu, không có các loại thép phù hợp để làm linh kiện cơ khí", anh Lê Văn Hiếu, giám đốc Phương Trang TMS, chia sẻ. Từ kinh nghiệm bán hàng của mình, anh cho biết, các doanh nghiệp cần thép đặc chủng làm khuôn mẫu, đồ gá, cơ khí chính xác vẫn phải mua thép nhập khẩu từ Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc.
Một phần giá trị sản xuất công nghiệp bị "rò rỉ"
Nhìn bao quát hơn, anh Phạm Hải Phong, Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam (VASI) chia sẻ với Tia Sáng rằng cả bốn dạng đầu vào phổ biến của ngành công nghiệp phụ trợ là thép, nhôm, nhựa và linh kiện điện tử đều chủ yếu phải nhập khẩu.
Khảo sát của Bộ Công Thương về nguyên vật liệu và đầu vào cho ngành công nghiệp hỗ trợ cho biết, khoảng 66,3% doanh nghiệp cho biết đầu vào do các nhà cung ứng nước ngoài cung cấp, 4,6% nói rằng họ mua hoàn toàn từ nước ngoài, phần còn lại 29% sử dụng mô hình hỗn hợp, tức mua nguyên liệu từ cả nhà cung cấp trong nước và nhập khẩu [1].
Trong ngắn hạn, việc mua nguyên vật liệu và linh kiện nhập khẩu giúp doanh nghiệp nhanh chóng tham gia chuỗi cung ứng cho các doanh nghiệp FDI, nhưng về dài hạn, điều này tạo ra điểm yếu cho ngành công nghiệp.
Các đánh giá gần đây của Ngân hàng Thế giới và OECD chỉ ra, một phần giá trị công nghiệp của Việt Nam đã bị "rò rỉ" ra ngoài qua linh kiện, nguyên liệu nhập khẩu. Theo OECD, khoảng 4/5 đầu vào để tạo ra hàng xuất khẩu cuối cùng của Việt Nam đến từ nhập khẩu. Tính cả các công đoạn lắp ráp và chế biến, giá trị gia tăng từ nước ngoài chiếm 48% tổng giá trị xuất khẩu năm 2020, tăng từ 36% năm 2005 (ngược với xu hướng các nước xung quanh đã giảm mạnh tỷ lệ này: Thái Lan và Malaysia còn hơn 30%, Indonesia hơn 10%). Tỷ lệ này đặc biệt cao với máy móc (70,4%), nhóm ngành có nhu cầu về linh kiện và các đầu vào công nghiệp ngày càng lớn nhưng hầu hết phải nhập khẩu [3, 4].
Chưa có một thị trường đủ lớn
Do đó, giảm phụ thuộc nhập khẩu đầu vào là một trong những mục tiêu cốt lõi được Chính phủ đề ra trong Kế hoạch phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ đến năm 2035. Công nghiệp hỗ trợ được xác định là nền tảng để nâng cao năng lực sản xuất trong nước, tăng tỷ lệ nội địa hóa và thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Nhưng giải quyết được điều này không dễ. Bởi bài toán trước mắt là chưa có một thị trường đủ lớn cho nhà sản xuất nguyên liệu trong nước. Anh Phạm Hải Phong phân tích: "Vì thị trường còn manh mún và các doanh nghiệp mua nguyên liệu qua những kênh riêng, khiến nhu cầu bị phân tán, không đủ tập trung". Ngay cả những nhà sản xuất lớn như Hòa Phát hay Formosa, nếu muốn phát triển một loại thép chế tạo phù hợp với các doanh nghiệp làm công nghiệp hỗ trợ trong nước, cũng khó gom đủ nhu cầu để sản xuất ở quy mô lớn và cạnh tranh về giá.
Từ góc độ doanh nghiệp, chị Lan, anh Hiếu cũng có nhận định tương tự. Anh Hiếu còn cho rằng khoảng trống này khiến các doanh nghiệp nhập khẩu và cung cấp thép cho các nhà gia công linh kiện trong nước "vẫn có dư địa để phát triển tốt trong ít nhất 10 năm nữa".
VASI từng thử giải bài toán này. Anh Phong kể, năm ngoái, khi chính quyền Tổng thống Donald Trump liên tiếp áp thuế cao lên hàng sản xuất thứ cấp có nguồn gốc Trung Quốc và tăng thuế với thép, nhôm nhập khẩu, các doanh nghiệp trong VASI từng tính toán mua thép trong nước thay vì nhập từ Trung Quốc để giảm rủi ro thuế quan khi xuất sản phẩm sang Mỹ.
Hiệp hội tập hợp nhu cầu của 20 doanh nghiệp hội viên, lên tới "mấy chục nghìn tấn", để dự kiến đặt hàng riêng Hòa Phát. Nhưng kế hoạch không thành, vì sau đó chính sách thuế của Mỹ được điều chỉnh, các doanh nghiệp gác lại việc liên kết đặt một mẻ hàng nội địa riêng.
Các doanh nghiệp trao đổi về bộ dụng cụ lắp đặt các thiết bị công nghiệp, tại Triển lãm Giao thương Quốc tế Ngành Chế tạo - FBC ASEAN 2026. Ảnh: Ngô Hà
Ngược lại, về phía doanh nghiệp sản xuất nguyên liệu, trước hết họ phải biết được tín hiệu thị trường thực sự cần gì, cần với quy mô bao nhiêu, khả năng tiêu thụ thế nào mới dám đầu tư sản xuất. "Mỗi lần Hoà Phát mở lò là họ phải sản xuất ra từ 6.000 - 9.000 tấn/ngày", anh Phong nói. Quy mô sản xuất lớn như vậy đòi hỏi thị trường đầu ra cũng phải đủ lớn và ổn định.
Theo anh, để có một bức tranh đầy đủ về thị trường, cần một cuộc khảo sát quy mô toàn ngành. Các cơ quan quản lý cần đứng ra thu thập dữ liệu chi tiết về nhu cầu của doanh nghiệp: đang sử dụng loại vật liệu nào, với sản lượng bao nhiêu, doanh nghiệp nào sử dụng và phục vụ những sản phẩm gì. Từ đó, có thể xác định rõ những khoảng trống mà doanh nghiệp trong nước có thể tham gia.
Những tín hiệu bước đầu
Dù vậy, đã có những tín hiệu đầu tiên cho thấy bài toán này có thể thay đổi. Chẳng hạn, sau nhiều năm sản xuất thép xây dựng, Hòa Phát dự kiến đưa thép chế tạo ra thị trường vào 2027 - 2028.
Theo anh Phạm Hải Phong, việc doanh nghiệp này đầu tư vào các dòng thép chất lượng cao cho thấy thị trường đã bắt đầu đủ lớn để một nhà sản xuất thép mở rộng sang những sản phẩm có yêu cầu kỹ thuật cao hơn. "Chỉ khi thị trường đủ lớn và có tính dự báo, những nhà sản xuất lớn như vậy mới nhảy vào", anh nói.
Nhưng theo anh, quan trọng hơn là những doanh nghiệp đang làm linh kiện cơ khí ở giữa chuỗi cũng phải lớn lên. Nếu không, bài toán doanh nghiệp sản xuất và quy mô thị trường vẫn sẽ rơi vào thế "con gà - quả trứng".
Anh nhận định, sau khoảng 20 năm tích lũy, một số doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ sẽ dần có đủ vốn, kinh nghiệm và quan hệ để chuyển từ gia công linh kiện đơn lẻ sang lắp ráp, chế tạo các cụm linh kiện.
Khi bước lên một vị trí cao hơn,"có nhà máy lắp ráp, chế tạo cụm linh kiện trong nước, doanh nghiệp có thể thương thảo với khách hàng cuối về giá cả, tỷ lệ nội địa hóa, thậm chí yêu cầu một phần vật liệu được sản xuất tại Việt Nam. Từ đó, họ có thể kéo các nhà cung cấp nguyên liệu, linh kiện trong nước cùng đi lên", anh nói.
Còn với nhà cung ứng cấp 1 cho các công ty FDI như LeGroup, điều chị Lan quan tâm là phải đáp ứng yêu cầu của khách hàng, nên nếu có nguồn thép trong nước thì "thép phải đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, giá phải cạnh tranh". Khi những điều kiện đó cùng xuất hiện, doanh nghiệp linh kiện như họ mới có lý do để thay đổi nhà cung cấp nguyên liệu trong một chuỗi cung ứng đã hình thành từ lâu.
[1] Resources and Outcomes of Industrial Development Support in Bac Giang Province, Vietnam. (2024). European Journal of Development Studies, 4(2), 7-13. https://doi.org/10.24018/ejdevelop.2024.4.2.334
[2] World Bank, (9/2025), Vietnam Economic Update - Special Focus: Nurturing Viet Nam’s High-tech Talents, https://documents1.worldbank.org/curated/en/099133509042513941/pdf/IDU-0d5c6542-bd71-4685-afd7-f02b835bc36c.pdf
[3] OECD, Economic surveys (6/2025), https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/publications/reports/2025/06/oecd-economic-surveys-viet-nam-2025_f2511b78/fb37254b-en.pdf
[4] Quyết định số 929/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 – 2035, https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=218246