Chính sách tài khóa của Việt Nam từ năm 2025 đến nay được thực hiện theo hướng mở rộng, với trọng tâm hỗ trợ tổng cầu và thúc đẩy đầu tư công. Chính sách này được thực hiện trong điều kiện ngân sách thặng dư.
Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2025 đạt 2.681,5 nghìn tỷ đồng, tăng 30,3% so với năm 2024, tương đương khoảng 20,9% GDP [1][2]. Tổng chi ngân sách đạt khoảng 2.424,6 nghìn tỷ đồng, trong đó chi đầu tư phát triển đạt 755,1 nghìn tỷ đồng, tương đương 5,9% GDP [2].
Tromg bối cảnh đó, một trong những biện pháp đáng chú ý là giảm 2 điểm phần trăm thuế VAT từ 10% xuống 8%, áp dụng từ 1/7/2025 đến hết 31/12/2026, dự kiến giảm thu khoảng 121,74 nghìn tỷ đồng [3][4].
Thu ngân sách nhà nước năm 2025 đạt kỷ lục. Ảnh minh họa: Giang Huy
Nhìn bề ngoài, Việt Nam có dư địa tài khóa tương đối thuận lợi. Không chỉ có thặng dư ngân sách năm 2025, theo quyết toán ngân sách nhà nước năm 2024, nợ công bằng 34,02% GDP - thấp hơn đáng kể so với trần nợ công 60% GDP. Các ước tính cuối năm 2025 cho thấy nợ công nằm trong khoảng 35–36% GDP, vẫn thấp hơn nhiều so với trần pháp lý.
Đây là cơ sở để World Bank đánh giá Việt Nam vẫn còn không gian tài khóa để quản lý các rủi ro bên ngoài [5]. IMF (2025) cũng cho rằng trong bối cảnh dư địa chính sách tiền tệ bị hạn chế, chính sách tài khóa cần đóng vai trò dẫn dắt nhiều hơn trong hỗ trợ tăng trưởng trung hạn [6].
Tuy nhiên, đánh giá dư địa tài khóa không nên chỉ dừng ở tỷ lệ nợ công. Vấn đề quan trọng hơn là hiệu quả chuyển hóa chi tiêu ngân sách thành năng lực sản xuất thực sự của nền kinh tế. Vì vậy, cần nhìn chính sách tài khóa mở rộng qua ba chiều: hiệu quả đầu tư công, rủi ro thất thoát tài chính công, và nguy cơ tài khóa lấn át chính sách tiền tệ.
Hiệu quả đầu tư công: Đầu tư không tự động trở thành vốn hữu ích
Các mô hình DIG và DIGNAR của IMF nhấn mạnh rằng hệ số hiệu quả đầu tư công quyết định mức độ chuyển hóa chi tiêu ngân sách thành vốn công sản xuất [7]. Nếu hiệu quả đầu tư thấp, một đồng chi tiêu công tăng thêm sẽ tạo ra ít tăng trưởng hơn, trong khi chi phí tài trợ và nghĩa vụ nợ vẫn phát sinh đầy đủ. Khi đó, mở rộng tài khóa có thể làm tăng nợ nhanh hơn tăng trưởng, khiến dư địa tài khóa thực tế thu hẹp nhanh hơn so với tính toán cơ học dựa trên khoảng cách giữa nợ công hiện tại và trần nợ.
Điều này phù hợp với cảnh báo tại nhiều nước đang phát triển, chi tiêu đầu tư không tự động trở thành vốn công hữu ích [8]. Tham nhũng, sai lệch phân bổ nguồn lực và hạn chế trong giám sát có thể khiến một phần lớn ngân sách đầu tư không chuyển hóa thành hạ tầng có ích.
IMF, sau khi tổng kết 65 nghiên cứu trường hợp ứng dụng DIG/DIGNAR, cũng rút ra bài học rằng cải thiện hiệu quả đầu tư và nâng cao suất sinh lợi của dự án công tác động đến tăng trưởng lớn hơn nhiều so với việc chỉ tăng quy mô đầu tư [9]. Ngược lại, dồn vốn sớm vào đầu tư công khi năng lực hấp thụ còn hạn chế có thể khuếch đại rủi ro nợ thay vì thúc đẩy tăng trưởng.
Bộ lọc thể chế: Chi tiêu công phải đi đôi với năng lực giám sát
Tổng hợp bằng chứng từ nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy tỷ lệ thất thoát tài chính công tại các nước đang phát triển có thể dao động rất rộng [10]. Trong một số chương trình công, tỷ lệ thất thoát biên có thể lên đến 100%, nghĩa là toàn bộ phần chi tiêu tăng thêm bị hấp thụ bởi các khâu trung gian [11].
Hàm ý chính sách: khi chi tiêu tăng vượt năng lực giám sát, phần tăng thêm có thể đối mặt với tỷ lệ thất thoát cao hơn nhiều so với mức trung bình.
Bằng chứng từ thí nghiệm ngẫu nhiên tại Indonesia cho thấy kiểm toán từ trên xuống có hiệu quả rõ rệt hơn trong việc giảm thất thoát ở các dự án xây dựng đường sá, trong khi giám sát từ dưới lên thông qua sự tham gia cộng đồng hầu như không tạo ra tác động tương tự [12]. Điều này gợi ý rằng năng lực kiểm toán nhà nước và cơ chế giám sát chính thức giữ vai trò then chốt trong kiểm soát thất thoát đầu tư công, đặc biệt đối với các dự án hạ tầng quy mô lớn.
Kiểm toán từ trên xuống có hiệu quả rõ rệt hơn trong việc giảm thất thoát ở các dự án xây dựng đường sá, so với giám sát từ dưới lên. Ảnh minh họa: Cao tốc Cần Thơ - Cà Mau đoạn qua xã Vị Thủy, TP Cần Thơ. Tác giả: An Bình
Tại Việt Nam, các nút thắt thể chế thể hiện rõ qua số liệu giải ngân. World Bank đánh giá đầu tư công bình quân đạt 6,4% GDP, cao hơn Indonesia và Thái Lan, nhưng tỷ lệ giải ngân còn chậm [5]. Năm 2025, thu ngân sách vượt dự toán rất lớn, nhưng tiến độ chi và giải ngân đầu tư công vẫn cho thấy năng lực hấp thụ là điểm cần theo dõi: đến ngày 31/12/2025, giải ngân đầu tư công đạt chỉ đạt 83,7% kế hoạch vốn năm 2025 [13].
Khoảng cách này cho thấy vấn đề không chỉ nằm ở nguồn lực, mà còn ở năng lực triển khai. Giai đoạn tái cơ cấu bộ máy nhà nước 2025-2026 tạo ra cơ hội dài hạn, nhưng cũng có thể làm phát sinh rủi ro chuyển tiếp khi các đơn vị sáp nhập, nhân sự thay đổi và quy trình chưa ổn định.
Nguy cơ tài khóa lấn át chính sách tiền tệ
Khi bị chính sách tài khóa chi phối, ngân hàng trung ương có thể mất khả năng kiểm soát lạm phát một cách độc lập [14]. Nghiên cứu trường hợp Brazil cho thấy trong điều kiện nợ công cao và mức độ lo ngại của nhà đầu tư lớn, việc tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát có thể làm tăng chi phí trả nợ, tăng lo ngại vỡ nợ, tiền của các nhà đầu tư chảy ra và đồng nội tệ mất giá, từ đó khiến lạm phát tăng cao hơn [15]. Trường hợp Lào, với nợ công rất cao, đồng nội tệ mất giá mạnh và lạm phát vượt 25%, minh họa cơ chế này trong bối cảnh ASEAN [16].
So với một số nước ASEAN, Việt Nam có vị thế tài khóa thuận lợi hơn. Năm 2025, Văn phòng Nghiên cứu Kinh tế Vĩ mô ASEAN+3 (AMRO) nhận định, Việt Nam là nền kinh tế duy nhất trong nhóm được so sánh có tỷ lệ nợ công giảm so với năm 2019, từ 38,2% GDP xuống 34% GDP năm 2024 [16].
Trong khi đó, nợ công của các nền kinh tế được so sánh đều tăng so với trước đại dịch: Indonesia tăng từ 30,2% lên 39,8% GDP; Thái Lan từ 33,7% lên 55,8% GDP; Philippines từ 39,6% lên 60,7% GDP; Malaysia từ 52,4% lên 64,6% GDP; và Lào từ 58,8% lên 92,8% GDP.
Tuy nhiên, nếu cập nhật theo số quyết toán ngân sách nhà nước của Việt Nam, bức tranh tài khóa cần được diễn giải thận trọng hơn. Tổng lượng vốn mà chính phủ cần huy động để vừa bù đắp bội chi vừa xử lý các nghĩa vụ nợ cũng tăng từ 2,2% (2019) lên 4,4% GDP (2024). Mức này vẫn thấp nhất trong nhóm so sánh, nhưng tốc độ tăng nhanh cho thấy dư địa tài khóa hiện tại không nên được xem là bất biến.
Nhìn từ góc độ này, con số nợ công 34% GDP không nên được hiểu là dư địa tài khóa dồi dào để mở rộng không giới hạn. Dư địa thực tế không được đo chỉ bằng khoảng cách giữa nợ công và trần nợ, mà bằng khả năng chuyển hóa chi tiêu tăng thêm thành tăng trưởng.
Kỷ luật tài khóa ngay cả khi chỉ số nợ công còn thấp
Kinh nghiệm khu vực cho thấy nhiều nền kinh tế không rơi vào rủi ro nợ vì nợ quá cao ngay từ đầu, mà vì sử dụng hết dư địa trong giai đoạn thuận lợi và không còn đệm chống sốc khi khủng hoảng xảy ra. Indonesia trong khủng hoảng 1997 chứng kiến nợ công tăng mạnh do nợ tiềm tàng từ khu vực ngân hàng hiện thực hóa [17]. Philippines sau COVID-19 cũng ghi nhận nợ công và chi phí lãi vay tăng cao [16]. Những bài học này cho thấy cần duy trì kỷ luật tài khóa ngay cả khi chỉ số nợ công hiện tại còn thấp.
Việc mở rộng tài khóa không chỉ làm gia tăng nhu cầu vốn của Chính phủ mà còn có nguy cơ chèn ép khu vực tư nhân [17]. Tại Việt Nam, dư nợ tín dụng đã đạt 142,1% GDP, vượt hầu hết các nền kinh tế mới nổi [6]. Nếu Chính phủ tăng phát hành trái phiếu nội địa để tài trợ cho kế hoạch đầu tư hạ tầng lớn trong giai đoạn 2025-2030, áp lực cạnh tranh nguồn vốn có thể làm tăng mặt bằng lãi suất hoặc làm thay đổi điều kiện tín dụng và ảnh hưởng đến doanh nghiệp vừa và nhỏ. Vì vậy, phát triển thị trường vốn là điều kiện quan trọng để mở rộng đầu tư công mà không gây tổn thương cho khu vực tư nhân.
Cơ cấu chi tiêu cũng quyết định tính bền vững của điều chỉnh tài khóa. Nếu người dân và doanh nghiệp lo ngại rằng chi tiêu công cao hôm nay sẽ dẫn đến tăng thuế trong tương lai, họ có thể giảm chi tiêu và tăng tiết kiệm để chuẩn bị trước. Vì vậy, một phần tác động kích cầu của chính sách tài khóa có thể bị triệt tiêu [18]. Các khoản chi thường xuyên có tính cam kết dài hạn, như cải cách tiền lương hay hỗ trợ nghỉ hưu sớm, có thể làm tăng áp lực ngân sách trong tương lai. Một khi mặt bằng chi thường xuyên tăng lên, việc đảo ngược sẽ rất khó khăn. Nếu tăng trưởng kinh tế suy giảm, những cam kết này có nguy cơ tạo ra thâm hụt cơ cấu kéo dài và làm giảm dư địa tài khóa.
Từ các phân tích trên, mối quan tâm chính của chính sách tài khóa của Việt Nam phải là "mỗi đồng chi tiêu công tạo ra bao nhiêu tăng trưởng thực chất" thay vì "còn bao nhiêu dư địa nợ công". Trong thực tế hiện nay, điều này đòi hỏi ba ưu tiên.
Thứ nhất, cần đánh giá nghiêm túc năng lực thể chế trước khi mở rộng chi tiêu, đặc biệt trong giai đoạn tái cơ cấu bộ máy nhà nước. Các dự án hạ tầng lớn cần đi kèm cơ chế kiểm toán mạnh, minh bạch và có khả năng giám sát từ sớm.
Thứ hai, Việt Nam cần duy trì một giới hạn nợ công thực tế và thận trọng hơn mức trần pháp lý 60% hiện hành. Điều này giúp tăng kỷ luật tài khóa, ưu tiên các dự án có hiệu quả cao và tránh đầu tư dàn trải.
Thứ ba, mọi cam kết chi tiêu mới cần đi kèm nguồn thu ổn định và bền vững. Việc tăng thu ngân sách cần dựa trên cải cách cơ cấu thuế lâu dài thay vì chỉ hưởng lợi từ các điều kiện kinh tế thuận lợi trong ngắn hạn.
Tóm lại, dư địa tài khóa thực sự phụ thuộc vào hiệu quả đầu tư công, năng lực giám sát, cấu trúc chi tiêu, khả năng huy động thu bền vững và mức độ phát triển của thị trường vốn. Trong bối cảnh bất định bên ngoài gia tăng, kỷ luật tài khóa không chỉ là yêu cầu về ổn định nợ công, mà còn là điều kiện để bảo vệ khả năng phản ứng chính sách của nền kinh tế trước các cú sốc trong tương lai.
---
Tài liệu tham khảo
[1] Bộ Tài chính. (2026c). Bộ Tài chính công khai Quyết toán ngân sách nhà nước năm 2024; Cục Thống kê. (2026). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2025.
[2] Bộ Tài chính. (2026). Báo cáo đánh giá bổ sung kết quả thực hiện ngân sách nhà nước năm 2025.
[3] Quốc hội. (2025). Nghị quyết số 204/2025/QH15 về giảm thuế giá trị gia tăng.
[4] Chính phủ. (2025). Nghị định số 174/2025/NĐ-CP quy định chính sách giảm thuế giá trị gia tăng theo Nghị quyết số 204/2025/QH15 ngày 17 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội.
[5] World Bank. (2025). Taking stock September 2025: Vietnam economic update.
[6] IMF. (2025). Vietnam: Staff report for the 2025 Article IV consultation.
[7] Melina, G., Yang, S.-C. S., & Zanna, L.-F. (2016). Debt sustainability, public investment, and natural resources in developing countries: The DIGNAR model. Economic Modelling, 52, 630–649.
[8] Pritchett, L. (2000). The tyranny of concepts: CUDIE (cumulated, depreciated, investment effort) is not capital. Journal of Economic Growth, 5(4), 361–384.
[9] IMF (2019). Some policy lessons from country applications of the DIG and DIGNAR models.
[10] Olken, B. A., & Pande, R. (2012). Corruption in developing countries. Annual Review of Economics, 4(1), 479–509.
[11] Niehaus, P., & Sukhtankar, S. (2013). The marginal rate of corruption in public programs: Evidence from India. Journal of Public Economics, 104, 52–64.
[12] Olken, B. A. (2007). Monitoring corruption: Evidence from a field experiment in Indonesia. Journal of Political Economy, 115(2), 200–249.
[13] Bộ Tài chính. (2026d). Đẩy mạnh phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công năm 2026 ngay từ đầu năm.
[14] Sargent, T. J., & Wallace, N. (1984). Some unpleasant monetarist arithmetic. In Monetarism in the United Kingdom (pp. 15–41). Springer.
[15] Blanchard, O. J. (2004). Fiscal dominance and inflation targeting: Lessons from Brazil. In Inflation targeting, debt, and the Brazilian experience, 1999 to 2003. Cambridge, MA: National Bureau of Economic Research.
[16] AMRO. (2025). ASEAN+3 Fiscal Policy Report 2025.
[17] Tang, H. C., Liu, P., & Cheung, E. C. (2013). Changing impact of fiscal policy on selected ASEAN countries. Journal of Asian Economics, 24, 103–116.
[18] Alesina, A., & Ardagna, S. (1998). Tales of fiscal adjustment. Economic Policy, 13(27), 488–545.