Đào Lâm tổng hợp (Le train du futur, 2007)
Tuy có lợi thế lớn về vận tốc khai thác và sử dụng nhiên liệu sạch không ảnh hưởng đến môi trường nhưng TGV cũng có những nhược điểm nhất định. Chi phí đầu tư của tuyến đường sắt cao tốc là rất lớn với các chi phí ngày càng tăng tùy đặc điểm kĩ thuật cụ thể. Chi phí cho 1 km phụ thuộc: địa hình và địa chất vùng tuyến đi qua; số lượng công trình cầu hầm phải xây dựng; loại hình tuyến cao tốc hay hỗn hợp; giao cắt khu dân cư....với các chỉ tiêu kĩ thuật rất chặt chẽ. Theo thống kê của SNCF, chi phí trung bình là 1,7 tỷ euros/100 km đường sắt cao tốc nền rộng 14m, gấp hơn 3 lần so với việc xây dựng tuyến đường bộ cao tốc 4 làn tại Pháp. Cũng theo đánh giá của SNCF thì giá thành 1 đoàn tàu TGV như sau : - Tàu TGV thông thường (năm 1995) khoảng 14,4 triệu euros - Tàu TGV Duplex 500 chỗ (năm 2007) khoảng 25 triệu euros - Tàu Eurostar 794 chỗ (năm 1998) khoảng 32 triệu euros - Tàu Thalys 377 chỗ (năm 1997) khoảng 19 triệu euros So với chi phí đường sắt cao tốc tại các nước khác thì SNCF cho rằng TGV rẻ hơn 30 % so với hệ thống tàu cao tốc ở Tây Ban Nha hay Đức và rẻ hơn khoảng 50 % so với Shinkansen đệm từ trường của Nhật Bản. Tuy nhiên về độ tiện nghi thì TGV kém hơn so với Acela Express của Mỹ, Shinkansen, hay KTX của Hàn Quốc. Ngoài ra, TGV cũng bị coi là một nguyên nhân gây cản trở phát triển kinh tế các vùng nông thôn do thường chỉ kết nối các ga giữa các thành phố lớn. Về mặt kĩ thuật, để đảm bảo việc khai thác với vận tốc rất cao, TGV cũng đòi hỏi hệ thống đường sắt, tàu với yêu cầu kĩ thuật cao, hệ thống cung cấp điện và hệ thống tín hiệu vận hành chính xác với độ an toàn tin cậy rất cao. Các đoàn tàu cũng cần được kiểm tra và bảo dưỡng thường xuyên tại các trung tâm bảo dưỡng sửa chữa trên tuyến. |