Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) đang dần trở thành "ngôn ngữ mới" định hình cách con người học tập, lao động và sáng tạo, Việt Nam coi việc đưa AI vào giáo dục phổ thông không chỉ là một bước đi cần thiết mà còn là cơ hội để nuôi dưỡng những học sinh linh hoạt, có khả năng tư duy mạnh mẽ và sẵn sàng thích ứng với tương lai số hóa.
Trên quan điểm đó, mới đây, Khung nội dung thí điểm giáo dục trí tuệ nhân tạo cho học sinh phổ thông đã được ban hành, dựa trên bốn mạch kiến thức chính, tương ứng với bốn miền năng lực bổ trợ cho nhau: tư duy lấy con người làm trung tâm, đạo đức AI, kỹ thuật và ứng dụng AI, và thiết kế hệ thống AI. Cách tiếp cận này khá gần với khung năng lực AI cho học sinh mà UNESCO công bố năm 2024.
Như vậy AI không còn là câu chuyện bên lề mà đã đi vào ngôn ngữ chính thức của chính sách giáo dục.
Ở cấp thực thi, TPHCM đi trước một bước khi thí điểm giáo dục AI từ học kỳ II năm học 2025-2026. Từ vài năm nay, một số mô hình tiên phong như Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong còn đưa AI vào các tiết học thử nghiệm, những hoạt động liên môn, hoặc việc học sinh lớn hướng dẫn học sinh nhỏ làm quen với công cụ mới cho đến cả lập trình cơ bản, phân tích dữ liệu, tư duy thiết kế...
Mới đây, Bộ Giáo dục & Đào tạo đã ban hành Khung nội dung thí điểm giáo dục trí tuệ nhân tạo cho học sinh phổ thông. Ảnh minh họa: Funix
Tuy nhiên, giáo dục về trí tuệ nhân tạo không chỉ buộc nhà trường cập nhật thêm một công nghệ mới mà còn đặt nhà trường trước một tình huống thách thức. Khi AI có thể viết một bài luận gọn gàng, sinh một đoạn mã chạy được, tóm tắt một văn bản dài chỉ trong vài giây, kiểu kiểm tra chỉ nhìn vào sản phẩm cuối cùng sẽ ngày càng kém ý nghĩa. Một bài tập nộp đúng hạn, câu chữ mượt và hình thức đẹp chưa nói nhiều về mức độ hiểu biết của học sinh; đôi khi nó chỉ cho thấy các em đã học cách dùng công cụ khéo hơn.
Bởi vậy, nhà trường phải trả lời câu hỏi học sinh dùng AI như thế nào cho hiệu quả và nhà trường có nhìn thấy quá trình ấy hay không.
Do đó, khi cho phép đưa AI vào giáo dục phổ thông, nhà trường phải giúp học sinh đảm bảo bốn tiêu chí cụ thể: khai báo trung thực về việc các em dùng AI hỗ trợ những công đoạn nào, có kiểm chứng nguồn, hiểu được đóng góp gốc của bản thân nằm ở đâu, và các em có nhận ra rủi ro của công cụ mình dùng hay không.
Ở cấp thực hành, bốn tiêu chí ấy có thể hiểu rất giản dị. Khai báo trung thực là nói rõ AI được dùng ở khâu nào; kiểm chứng nguồn là không xem câu trả lời của AI như nguồn tự thân mà chỉ là tổng hợp và phải đi tìm nguồn thông tin đích; đóng góp gốc là bài làm vẫn phải có phần lập luận, ví dụ, lựa chọn hay cách diễn đạt của chính người học; còn nhận ra rủi ro là biết chỉ ra chỗ công cụ có thể sai, thiên lệch, hoặc làm mờ trách nhiệm.
Nói cách khác, đánh giá trong thời AI phải dịch từ câu hỏi "bài làm có đúng không" sang câu hỏi khó hơn: "trong bài làm ấy, phần phán đoán, tư duy thực sự của người học nằm ở đâu?".
Mỗi trường phổ thông rồi sẽ phải làm rõ ba vấn đề cụ thể: học sinh được dùng AI đến đâu, việc khai báo ra sao, và dữ liệu nào tuyệt đối không được đưa vào các công cụ AI thương mại. Trong khảo sát UNESCO công bố năm 2023 với hơn 450 trường học và đại học trên toàn cầu, chưa đến 10% cho biết đã có chính sách, quy chế hướng dẫn về AI tạo sinh. Khoảng trống ấy cho thấy ngành giáo dục thường chậm hơn công nghệ không chỉ ở cập nhật công cụ, mà ở năng lực đặt ra quy tắc sử dụng công cụ.
Mặt khác, chính vào lúc một số trường đã có thể thử nghiệm các tiết học AI, hoạt động liên môn, một vấn đề khác cũng hiện ra rõ hơn: giáo dục AI rất dễ phát triển theo hai tốc độ. Ở một số trường thành phố, câu chuyện đã là dạy AI thế nào cho sâu; ở nhiều nơi khác, câu chuyện vẫn là có đủ máy tính, đủ đường truyền hay không.
Khoảng cách số không chỉ dừng lại ở chênh lệch về thiết bị. Phần lớn các công cụ mạnh vẫn vận hành tốt hơn bằng tiếng Anh; học sinh nào có kiến thức dày hơn, năng lực tốt hơn, trong đó ngoại ngữ tốt hơn thường cũng biết đặt câu hỏi tốt hơn, đọc đầu ra tốt hơn và kiểm chứng tốt hơn. Nếu không nhìn thấy tầng chênh lệch này để có các hỗ trợ cho các nhóm yếu thế hơn, thì khoảng cách giữa các nhóm sẽ ngày càng doãng rộng.
Với Việt Nam, điều cần thiết lúc này có lẽ không phải là một diễn ngôn quá hào hứng về việc "đưa AI vào nhà trường", mà là một lộ trình bình tĩnh và có thứ tự: cập nhật mục tiêu của môn Tin học, bồi dưỡng giáo viên, xây dựng quy chế AI ở cấp trường, và đầu tư để không đẩy vùng khó ra xa hơn. Ở cấp lớp học, việc ấy có khi bắt đầu từ những nguyên tắc về trung thực, trách nhiệm, và chủ động phán đoán. Những nguyên tắc này, nếu không thực hiện được, mọi cập nhật chương trình rất có thể chỉ tạo ra những học sinh dùng công cụ ngày càng nhiều hơn, nhưng nghĩ ngày càng ít đi.
---
Tài liệu tham khảo:
Quyết định 3439/QD-BGDDT ngày 15/12/2025 ban hành Khung nội dung thí điểm giáo dục trí tuệ nhân tạo cho học sinh phổ thông. Bộ Giáo dục & Đào tạo, 15/12/2025. https://moet.gov.vn/van-ban/van-ban-chi-dao-dieu-hanh/quyet-dinh-ban-hanh-khung-noi-dung-thi-diem-giao-duc-tri-tue-nhan-tao-cho-hoc-sinh-pho-thong.html
AI Competency Framework for Students. UNESCO, 2024. https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000391105.
AI Competency Framework for Teachers. UNESCO, 2024. https://www.unesco.org/en/articles/ai-competency-framework-teachers
UNESCO survey: Less than 10% of schools and universities have formal guidance on AI. UNESCO, 1/6/2023. https://www.unesco.org/en/articles/unesco-survey-less-10-schools-and-universities-have-formal-guidance-ai