Đội ngũ của chúng tôi hiện đang tất bật chuẩn bị cho Kỳ thi Olympic Quốc tế về Thiên văn học và Vật lý thiên văn năm 2026, dự kiến sẽ được tổ chức tại Việt Nam vào tháng 9 tới. Quá trình đồng hành cùng sự kiện quốc tế này giúp chúng tôi mỗi năm đều có cơ hội gặp gỡ các thành viên của đội tuyển Việt Nam. Có những em đã dành khoảng thời gian trước khi lên đường du học để tham gia cùng chúng tôi - và thực ra, du học cũng là con đường mà tất cả các em rồi cũng đều lựa chọn.
Trong suốt 26 năm gắn bó với Việt Nam, việc phải chứng kiến tình trạng chảy máu chất xám vẫn luôn khiến tôi đau lòng; thật buồn khi nhìn những em học sinh xuất chúng cứ thế rời quê hương, để rồi không mấy ai trở về. Cảm giác ấy như thể con cái đang trách cứ ta rằng: "Chúng con phải đi thôi, vì mái nhà này không cho chúng con tình yêu thương mà chúng con cần".
GS Pierre Darriulat tại một tọa đàm của Tia Sáng vào đầu năm nay. Ảnh: Anh Thư
Vì sao các em đi và không trở lại?
Băn khoăn không biết liệu tình trạng chảy máu chất xám trong ngành nghiên cứu khoa học cơ bản tại Việt Nam dạo gần đây có dấu hiệu thuyên giảm hay không, tôi đã thử hỏi AI. Vốn là một công cụ không ngại nói ra những điều trái tai, AI đã trả lời: "Trong suốt hai năm qua, nạn chảy máu chất xám trong nền khoa học cơ bản của Việt Nam vẫn là một điểm nghẽn nghiêm trọng" và rằng "Các học sinh có thành tích xuất sắc trong lĩnh vực khoa học và những nhà nghiên cứu hàng đầu vẫn tiếp tục rời đi. Dù thu nhập cũng là một yếu tố, nhưng nguyên nhân chính khiến họ từ chối trở về lại nằm ở môi trường học thuật chưa đủ phát triển để phát huy chuyên môn, bộ máy quản lý hành chính rườm rà tại các cơ sở trong nước, và sự thiếu thốn các phòng thí nghiệm hiện đại".
AI còn dẫn nguồn những bài báo phân tích gai góc về thực trạng hiện tại. Các tác giả đều nhấn mạnh một thực tế rằng mức lương cao hơn hoàn toàn không phải là động lực chính khiến những học sinh tài năng quyết định rời quê hương. Những yếu tố quan trọng hơn thế chính là sự tôn trọng dành cho tự chủ học thuật, đạo đức khoa học và rộng hơn là các giá trị tri thức.
Quả thực, những gì họ viết hoàn toàn đồng điệu với trải nghiệm của chính cá nhân tôi. Sau khi hoàn thành luận án Tiến sĩ tại Mỹ, tôi từng được mời làm việc tại Đại học UCLA và Đại học Maryland với mức lương gần như gấp đôi những gì nước Pháp đưa ra khi đó. Thế nhưng, tôi vẫn chọn trở về Pháp, bởi lẽ những người thầy năm xưa tại quê nhà vẫn luôn giữ liên lạc suốt những năm tháng tôi ở Mỹ. Họ liên tục cập nhật cho tôi về tiến trình khôi phục nghiên cứu của nước Pháp sau chiến tranh, và động viên tôi trở về để đóng góp vào sự hưng thịnh của nền khoa học nước nhà. Như ông Huỳnh Văn Chương, Cục trưởng Cục Quản lý Chất lượng thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo gần đây đã nhận định, đây chính là điều mà Việt Nam đang thiếu [1].
Suy cho cùng, chảy máu chất xám thường được xem là biểu hiện của một hệ thống giáo dục và quản lý đang trì trệ, chứ không phải lỗi tự thân của các em học sinh. Thật đáng buồn, khi những chủ nhân của các tấm huy chương Olympic cứ lần lượt ra đi, tổn thất ấy không chỉ dừng lại ở việc mất đi vài cá nhân kiệt xuất. Nó còn làm suy giảm niềm tin của thế hệ tương lai về khoa học nước nhà.
Nhiều người kết luận rằng, nếu không có một sự thay đổi mang tính hệ thống trong tư duy, từng làn sóng nhân tài sẽ cứ thế tiếp tục nối đuôi nhau ra đi. Họ lựa chọn ở lại xứ người hoàn toàn không phải vì không yêu nước, mà bởi họ không tìm thấy một lộ trình phát triển mạch lạc và tương xứng với kỳ vọng ngay tại quê nhà.
Hệ lụy do quản lý và tư duy cứng nhắc
Từ những gì tôi biết về quản lý khoa học, tích lũy từ thực tế công việc, trong đó có bảy năm đảm nhiệm cương vị phụ trách lĩnh vực Nghiên cứu tại CERN (Tổ chức Nghiên cứu Hạt nhân Châu Âu), bài học lớn nhất mà tôi rút ra được từ trải nghiệm này là có hai kiểu người quản lý. Những người quản lý giỏi là những người hiểu rằng họ đang phụng sự cộng đồng mà mình quản lý. Ngược lại, những người quản lý kém lại nghĩ rằng cộng đồng đó sinh ra là để phục vụ cho họ.
Bài học thứ hai mà tôi học được là các quy tắc không phải là giáo điều để cứ thế tuân theo một cách mù quáng như rô bốt, mà thay vào đó, chúng cần phải liên tục được điều chỉnh và thích ứng với môi trường luôn biến động. Trong thực tế, có rất nhiều sáng kiến và hành động khả thi có thể dễ dàng triển khai để giúp nghiên cứu cơ bản tiến bộ, nhưng thật đáng tiếc, chúng ta lại thường bỏ lỡ.
Tiến sĩ Tống Sĩ Sơn – Phó Trưởng khoa, khoa Vũ trụ và Ứng dụng (Trường Đại học Việt Pháp - USTH) hướng dẫn sinh viên sử dụng camera siêu phổ. Ảnh: USTH
Cho phép tôi được minh họa điều này bằng một ví dụ về mô hình đào tạo tiến sĩ mà chúng tôi đã áp dụng thành công trong suốt hai thập kỷ qua, và cũng là cái nôi ra đời 7 trong số 10 tiến sĩ tốt nghiệp từ đơn vị của chúng tôi. Đó là mô hình đồng hướng dẫn, một nghiên cứu sinh sẽ được hướng dẫn bởi hai nhà khoa học - một người ở Việt Nam thuộc khuôn khổ một trường đào tạo tiến sĩ trong nước, và người còn lại từ một trường đại học nước ngoài.
Quy trình triển khai cụ thể được quy định rõ trong bản thỏa thuận hợp tác ký kết giữa hai đơn vị đào tạo. Thỏa thuận này nêu rõ, nghiên cứu sinh sẽ chia đều thời gian học tập và nghiên cứu tại cả hai quốc gia; luận án được viết bằng tiếng Anh kèm theo các bản tóm tắt toàn diện bằng tiếng Việt và bằng ngôn ngữ của trường đối tác; buổi lễ bảo vệ sẽ diễn ra tại một trong hai nước (trên thực tế, chúng tôi cố gắng để phần lớn các buổi bảo vệ được tổ chức ngay tại Việt Nam) trước một hội đồng chấm luận án bao gồm thành viên của cả hai bên; và nếu bảo vệ thành công, nghiên cứu sinh sẽ được cấp bằng tiến sĩ của cả hai quốc gia.
Từ trải nghiệm của mình, chúng tôi thấy đây là mô hình tuyệt vời. Nó mở ra cơ hội hợp tác với các trường đại học danh tiếng nước ngoài, không chỉ trong thời gian làm luận án mà còn cả suốt nhiều năm sau đó. Mô hình này giúp người học vừa được thụ hưởng môi trường đào tạo tiên tiến ở nước ngoài, mà vẫn là một thành viên thuộc đội ngũ nghiên cứu của Việt Nam. Khoảng mười ba năm trước, tôi từng có cơ hội trình bày về tính ưu việt của mô hình này với Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phụ trách khối đại học khi đó là ông Bùi Văn Ga; ông bày tỏ hoàn toàn tán thành với những luận điểm tôi đưa ra, đồng thời cho biết các nhân viên của ông sẽ bắt tay vào việc đơn giản hóa các quy định của Việt Nam đối với hình thức đồng hướng dẫn này.
Tuy nhiên, đã không có bất kỳ thay đổi nào được thực hiện. Trên thực tế, các nghiên cứu sinh sau khi bảo vệ thành công phải mất từ một đến hai năm mới nhận được tấm bằng từ phía Việt Nam. Các em buộc phải hoàn thành thêm một khối lượng công việc đáng kể và phải bảo vệ lại luận án một lần nữa trước một hội đồng hoàn toàn là người Việt. Điều này vô hình trung đã tạo nên một hình ảnh khá đáng buồn và tự phụ về Việt Nam, khi chúng ta không tôn trọng các điều khoản trong thỏa thuận đã ký kết, đồng thời thể hiện sự thiếu tôn trọng đối với hội đồng quốc tế cũng như các nhà khoa học đồng hướng dẫn.
Gần đây, chúng tôi đã sắp xếp một trường hợp đồng hướng dẫn như vậy với một trường đại học danh tiếng của Bỉ là Đại học Tự do Bruxelles (Université Libre de Bruxelles), cho một nữ sinh xuất sắc đã nhận bằng Thạc sĩ tại Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH) dưới sự hướng dẫn của một thành viên trong đội ngũ chúng tôi và các nhà thiên văn học thuộc Đại học Aix-Marseille. Sau đó, chúng tôi đã đề xuất một trường đào tạo tiến sĩ lớn của Việt Nam tiếp nhận em làm nghiên cứu sinh.
Thế nhưng thật đáng tiếc, Việt Nam hiện vẫn chưa có bất kỳ trường đào tạo tiến sĩ nào trong lĩnh vực Thiên văn học và Vật lý thiên văn. Đây là một ngành khoa học vốn đã được cộng đồng khoa học quốc tế công nhận là mũi nhọn của nghiên cứu cơ bản từ hơn 50 năm qua; vậy mà cho đến nay, Việt Nam vẫn chưa để tâm tới, và chúng ta thì vẫn mãi loay hoay, chưa thể thúc đẩy ngành học này phát triển ở vị thế xứng đáng. Quả thực, tất cả các nghiên cứu sinh tốt nghiệp tiến sĩ từ đơn vị của chúng tôi đều nhận bằng của Việt Nam trong các lĩnh vực khác, chẳng hạn như vật lý nguyên tử, chứ không phải là vật lý thiên văn.
Trở lại trường hợp của nữ sinh nói trên, em đã nhận bằng Thạc sĩ ngành Thiên văn học và Vật lý thiên văn tại USTH, với một chương trình học rất khác so với chương trình thạc sĩ được giảng dạy tại trường đào tạo tiến sĩ của Việt Nam mà chúng tôi nộp hồ sơ. Người ta hoàn toàn có thể linh hoạt châm chước cho sự khác biệt này; thế nhưng, Trưởng khoa Vật lý của trường đào tạo tiến sĩ đó cho biết không thể tiếp nhận ứng viên vì điều này, dù rằng chúng tôi nỗ lực phản biện, cũng như có sự ủng hộ từ các cấp lãnh đạo cấp trên. Bảo sao những học trò xuất chúng nhất của chúng ta lại không cảm thấy bị chính quê hương mình bỏ rơi; và bảo sao nạn chảy máu chất xám vẫn cứ mãi nhức nhối ở mức báo động như hiện nay.
Ưu tiên của người lãnh đạo và trách nhiệm của chúng ta
Phê phán thì dễ, dựng xây mới khó. Quyết tâm của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay trong việc đổi mới phương thức tiếp cận để hướng tới một nền kinh tế tri thức đã được khẳng định rõ ràng từ hơn một năm trước, khi Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành Kết luận số 57-KL/TW của Bộ Chính trị [2]. Văn kiện này thúc đẩy những định hướng và quyết sách mạnh mẽ, mang tính chiến lược và cách mạng nhằm tạo ra xung lực mới. Đồng thời, văn kiện cũng khẳng định rằng, tạo bước đột phá trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là điều kiện tiên quyết để Việt Nam trở thành "nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào năm 2045".
Nghiên cứu khoa học tại Phòng thí nghiệm Trung tâm Nano và Năng lượng (Đại học Quốc gia Hà Nội ). Ảnh: Trung tâm Truyền thông KH&CN
Những ưu tiên cụ thể của Đảng và Nhà nước dành cho khoa học công nghệ từng được nguyên Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ sau dịp Tết nguyên đán [3][4], nhân dịp bổ nhiệm GS Trần Hồng Thái giữ chức Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST). Ông "nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải chuyển hóa các kết quả nghiên cứu thành sản phẩm thương mại, trên nguyên tắc Rõ bài toán - Rõ sản phẩm - Rõ ứng dụng - Rõ hiệu quả - Rõ đóng góp. VAST cần đi đầu trong việc đào tạo nguồn nhân lực cho ngành khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, xây dựng đội ngũ nhà khoa học chất lượng cao, tâm huyết; đổi mới mạnh mẽ công tác quản trị và tổ chức bộ máy; hoàn thiện thể chế và cơ chế tự chủ". Thủ tướng cũng chỉ rõ, VAST phải chuyển dịch từ "tư duy nhiệm vụ" sang "tư duy kết quả"; từ "làm nhiều" sang "làm trúng, làm đúng, làm đến nơi đến chốn"; từ "có công trình" sang "có đóng góp lớn cho tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả quốc gia".
Ưu tiên này tiếp tục được Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng Nguyễn Thanh Nghị khẳng định vào tháng 6 vừa qua [5][6], yêu cầu VAST quán triệt Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và các nghị quyết, chủ trương có liên quan, xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt để khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự là động lực tăng trưởng mới. Ông cũng yêu cầu VAST rà soát lại các phòng thí nghiệm trọng điểm, có kế hoạch nâng cấp, đầu tư tương xứng với mục tiêu nghiên cứu; xây dựng hạ tầng dữ liệu khoa học quốc gia đồng bộ và kết nối.
Quyết tâm chính trị từ các cấp cao nhất là điều rất đáng mừng, tạo ra khuôn khổ mà nền nghiên cứu cơ bản của Việt Nam cần để tồn tại, chuyển mình và phát triển. Tuy nhiên, nó cần được hiện thực hóa, một chặng đường đòi hỏi rất nhiều năng lực, sự thực tế, lòng can đảm, sự kiên trì cùng một thấu hiểu sâu sắc về bối cảnh hiện tại.
Trên thực tế, những từ ngữ chúng ta thường nói với nhau hằng ngày như "AI", "chuyển đổi số" hay "đổi mới sáng tạo" thường dễ trở thành những ngôn từ hình thức. Đặc biệt trong các lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, những từ khóa đó không phải phương thuốc có thể chữa lành những căn bệnh thâm căn vốn đã được nêu ra trong các bài báo mà AI đã dẫn dắt tôi đọc khi tìm hiểu về nạn chảy máu chất xám.
Việt Nam có những vấn đề cần ưu tiên giải quyết trong giai đoạn phát triển hiện nay của đất nước. Là những người làm nghiên cứu cơ bản, nhóm chúng tôi nghiên cứu về cách các ngôi sao sinh ra và chết đi. Chúng tôi không kỳ vọng các nhà lãnh đạo quan tâm dành nhiều thời gian tới những câu hỏi như vậy. Tất nhiên, về tầm nhìn dài hạn, họ có thể đồng ý rằng nghiên cứu cơ bản là cốt lõi, nhưng chúng tôi không thể mong đợi họ sẽ dành cho nó sự hỗ trợ đáng kể vào lúc này hay trong những năm tới. Nhưng chúng tôi ý thức được trách nhiệm trước hết thuộc về chính mình, phải nỗ lực hết mình để thúc đẩy những quyết sách đúng đắn, góp phần vào sự tiến bộ của nền khoa học Việt Nam.
Có ít nhất hai con đường để chúng ta thực hiện điều này: một là đặt chất lượng xuất sắc của các công trình nghiên cứu lên làm ưu tiên hàng đầu, và hai là khuyến khích hợp tác với các nhà khoa học ở nước ngoài, bao gồm cả các chuyên gia quốc tế, người Việt Nam, hay Việt kiều. Con đường thứ nhất là chìa khóa cốt lõi để các nhóm nghiên cứu Việt Nam có được sự nể trọng trên trường quốc tế. Trong khi đó, con đường thứ hai sẽ góp phần giảm thiểu những tổn thất do nạn chảy máu chất xám gây ra, đồng thời thúc đẩy một xu thế mà ngày nay người ta gọi là "sự dịch chuyển chất xám".
Anh Thư dịch
---
Nguồn trích dẫn:
[1] Bộ GD-ĐT: Đa số học sinh đoạt giải Olympic đi du học rồi ở lại nước ngoài, Tuổi Trẻ.
https://tuoitre.vn/bo-gd-dt-da-so-hoc-sinh-dat-giai-olympic-di-du-hoc-roi-o-lai-nuoc-ngoai-20251107163500015.htm
[2] Politburo Resolution No. 57-NQ/TW dated December 22 2024, Nhân Dân
https://en.nhandan.vn/special/politburo-resolution-no-57-nq-tw-dated-december-22-2024-on-breakthroughs-in-the-development-of-science-technology-innovation-and-national-digital-transformation/index.html
[3] PM appoints new leader for Vietnam’s top science academy, Vietnamnet
https://vietnamnet.vn/en/pm-appoints-new-leader-for-vietnam-s-top-science-academy-2496902.html
[4] Thủ tướng trao quyết định bổ nhiệm cho ông Trần Hồng Thái, Vietnamnet
https://vietnamnet.vn/thu-tuong-trao-quyet-dinh-bo-nhiem-cho-ong-tran-hong-thai-2496855.html
[5] Maintain its leading role in guiding Vietnam's science and technology development, Vietnam.vn
https://www.vietnam.vn/en/giu-vung-vai-tro-dinh-huong-dan-dat-nen-khoa-hoc-cong-nghe-viet-nam
[6] Giữ vững vai trò định hướng dẫn dắt nền khoa học công nghệ Việt Nam, Báo Tin tức.
https://baotintuc.vn/thoi-su/giu-vung-vai-tro-dinh-huong-dan-dat-nen-khoa-hoc-cong-nghe-viet-nam-20260623224247723.htm