![]() |
Hội thảo tham vấn ý kiến cho Nghiên cứu "Phân tích giới trong an sinh xã hội về bảo hiểm thai sản cho phụ nữ ở Việt Nam" do ISSI và UN Women thực hiện. |
PGS.TS Trần Thị Minh Thi, Phó Viện trưởng Viện Thông tin Khoa học xã hội (ISSI), tại Hội thảo tham vấn ý kiến cho Nghiên cứu "Phân tích giới trong an sinh xã hội về bảo hiểm thai sản cho phụ nữ ở Việt Nam" do ISSI và UN Women thực hiện, diễn ra vào ngày 26/6, chia sẻ chính sách thai sản của Việt Nam "còn rộng rãi và phóng khoáng hơn cả quy định của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO)". Ở Việt Nam, phụ nữ sinh con được nghỉ tổng cộng sáu tháng trong khi con số khuyến nghị của ILO là tối thiểu 14 tuần, và vẫn được giữ nguyên vị trí công việc.
Tuy nhiên, "những điều rất đẹp trong chính sách" này chỉ dành cho thiểu số phụ nữ được hưởng Bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc. Còn lại, hơn 60% phụ nữ sinh con (số liệu 2021) không được hưởng bất kì chế độ thai sản nào do họ tham gia BHXH tự nguyện hoặc không có BHXH.
Thực trạng này có một chút thay đổi khi Luật BHXH năm 2024 quy định phụ nữ tham gia BHXH tự nguyện sinh con sẽ được nhận một khoản trợ cấp khiêm tốn là 2 triệu đồng/con. Nhưng theo bà Trần Thị Thúy Anh, Chuyên gia quản lý chương trình, UN Women, số lượng phụ nữ không được hưởng chế độ thai sản vẫn quá lớn. Chỉ có khoảng 4% lao động phi chính thức tham gia BHXH tự nguyện vì thu nhập của họ thường thấp và bấp bênh. Không chỉ không được hưởng chế độ thai sản, hoàn cảnh kinh tế của họ còn buộc họ phải hy sinh sức khỏe của bản thân và cả của con để kiếm sống. Ông Nguyễn Hải Đạt, Điều phối viên Chương trình Quốc gia về An sinh Xã hội, ILO Việt Nam, chia sẻ ông đã từng "gặp những phụ nữ một ngày đi 100 km để bán muối đến tận sát ngày cuối cùng của tuần họ sinh con. Có những phụ nữ sau khi sinh chưa đầy một tháng đã sáng sớm ra đồng để làm muối". Theo Nghiên cứu, những người phụ nữ không có BHXH và không nghỉ thai sản chỉ chăm sóc con nhỏ được trung bình 6,22 giờ/tuần, ít hơn 5 lần so với những phụ nữ có BHXH và có nghỉ thai sản.
Tất cả những điều này không chỉ tạo gánh nặng cho từng cá nhân đơn lẻ mà hệ thống y tế và chất lượng dân số về lâu dài cũng sẽ phải hứng chịu, theo các chuyên gia ở Hội thảo.
Việc chăm sóc trẻ sơ sinh không nên chỉ là việc của phụ nữ, mà các chính sách hỗ trợ giai đoạn sau cần được mở rộng cho các thành viên khác trong gia đình. Một số nghiên cứu trên thế giới cho thấy việc người cha được nghỉ thai sản có mối quan hệ trực tiếp với sức khỏe và điều kiện kinh tế của người mẹ.
Mở rộng độ phủ bảo hiểm
Nghiên cứu đề xuất một cơ chế trong đó tất cả mọi phụ nữ đều được hưởng chế độ thai sản, bất kể họ có tham gia BHXH hay không. Điều này đã được triển khai ở quy mô nhỏ với Nghị định số 39/2015/NĐ-CP của Chính phủ, trong đó quy định phụ nữ là người dân tộc thiểu số (DTTS) hoặc phụ nữ người Kinh có chồng là người DTTS thuộc hộ nghèo cư trú ở những vùng khó khăn không tham gia BHXH sẽ được nhận trợ cấp thai sản 2 triệu đồng/người. Tuy nhiên, sau 10 năm thực hiện, chính sách mới chi trả được cho khoảng 80.000 phụ nữ
Trong năm 2024, số lượng phụ nữ cần hỗ trợ thai sản khoảng hơn 700 nghìn người. Nhóm nghiên cứu đưa ra hai kịch bản. Kịch bản thứ nhất đề xuất mức hỗ trợ cơ bản theo chuẩn nghèo đô thị là 2 triệu đồng/tháng/phụ nữ trong ba tháng sau sinh thì tổng ngân sách cần thiết là khoảng hơn bốn nghìn tỷ đồng/năm. Kịch bản thứ hai đề xuất mức hỗ trợ đầy đủ tương đương với chế độ của phụ nữ tham gia BHXH bắt buộc với mức lương tối thiểu bằng lương cơ sở là 2,34 triệu đồng/tháng và trong vòng sáu tháng. Như vậy, mỗi phụ nữ sẽ được nhận 14,1 triệu đồng, và tổng ngân sách cần thiết là khoảng 9.948 tỷ đồng/năm.
![]() |
Số lượng phụ nữ không được hưởng chế độ thai sản vẫn quá lớn. Ảnh: Shutter |
Nghiên cứu cũng vạch ra một lộ trình xây dựng BHXH đa tầng với ba giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất (2025 - 2027) sẽ hỗ trợ tiền mặt cho phụ nữ nghèo, phụ nữ DTTS và lao động phi chính thức, dùng ngân sách Trung ương, các chương trình mục tiêu quốc gia và hỗ trợ quốc tế theo mức đề xuất ngân sách như hai kịch bản trên. Giai đoạn thứ hai (2027 - 2030) sẽ tích hợp hỗ trợ vào BHXH tự nguyện có thành phần thai sản như quy định tại Luật BHXH năm 2024 nhưng với mức hỗ trợ cao hơn, lấy từ nguồn ngân sách địa phương và xã hội hóa. Giai đoạn ba từ năm 2030 trở đi sẽ thiết lập gói bảo hiểm sinh sản toàn dân, áp dụng cho mọi phụ nữ có con từ ngân sách nhà nước thường xuyên, đóng góp tự nguyện và quỹ BHXH đa tầng.
Áp dụng tín dụng chăm sóc
Hiện nay, công việc chăm sóc trẻ em vốn là việc "đương nhiên", và các chuyên gia trong hội thảo cho rằng cần phải thay đổi cách tiếp cận. Nói cách khác, thời gian và sức lực người mẹ nuôi dạy con cần phải được trả lương, thậm chí phải coi như một chỉ tiêu của phát triển bền vững "bởi vì nó đóng góp dài hạn cho phát triển chất lượng dân số", PGS.TS Trần Thị Minh Thi nhấn mạnh. Đây là bản chất của chính sách tín dụng chăm sóc (còn gọi là tín chỉ chăm sóc - care credit), trong đó ghi nhận thời gian phụ nữ phải tạm ngừng lao động chính thức để chăm sóc con nhỏ hoặc người thân vào quá trình tính lương hưu và các phúc lợi xã hội.
Dù còn là một khái niệm khá mới mẻ ở Việt Nam nhưng tín dụng chăm sóc đã là một thực tiễn được triển khai hiệu quả ở nhiều quốc gia. Nhật Bản đã áp dụng tín dụng chăm sóc từ năm 1995, trong đó với mỗi con, người mẹ được cộng thêm ba năm đóng BHXH với mức đóng dựa trên mức lương cuối cùng trước khi về hưu. Ngoài ra, tất cả phụ nữ, bao gồm cả lao động tự do, được miễn đóng góp lương hưu trong thời kỳ thai sản, và cả người lao động nam và nữ đều được miễn trong thời gian nghỉ thai sản.
Giảm gánh nặng chăm sóc cho phụ nữ
Nhìn xa hơn, việc chăm sóc trẻ sơ sinh không nên chỉ là việc của phụ nữ mà các chính sách hỗ trợ giai đoạn sau cần được mở rộng cho các thành viên khác trong gia đình. Một số nghiên cứu trên thế giới cho thấy việc người cha được nghỉ thai sản có mối quan hệ trực tiếp với sức khỏe và điều kiện kinh tế của người mẹ. Ở Thụy Điển, hơn một thập kỷ trước, tăng một tháng nghỉ thai sản cho người cha làm tăng thu nhập của người mẹ gần 7% trong bốn năm sau khi sinh con. Hay ở Na Uy, một nghiên cứu từ năm 2014 chỉ ra người cha nghỉ thai sản dài hơn giúp giảm tỷ lệ nghỉ ốm của người mẹ từ 5 - 10%, cho thấy có sự chia sẻ nhiều hơn trong việc chăm sóc khi con bị ốm.
Việc trợ cấp cho gia đình trẻ cũng rất cần thiết khi "hiện nay, hầu hết trường mầm non công lập chỉ nhận trẻ từ 18 tháng tuổi, nhưng chế độ nghỉ thai sản của phụ nữ chỉ là sáu tháng. Các chuyên gia về chăm sóc trẻ thơ cũng khuyến nghị không nên cho trẻ đi học sớm quá", đặt ra một "mâu thuẫn" rất lớn cho những gia đình mà cả cha mẹ và ông bà của trẻ đều đi làm, bà Đào Thị Vi Phương, Phó Trưởng ban Chính sách - Luật pháp, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, phân tích. Các trợ cấp về tài chính có thể hỗ trợ gia đình trẻ thuê bảo mẫu, người giúp việc hoặc bù đắp phần thu nhập bị mất đi khi một thành viên phải nghỉ việc để chăm sóc trẻ. Bà cũng cho rằng chính sách trợ cấp cho gia đình sẽ phù hợp hơn là kéo dài thời gian nghỉ thai sản của người mẹ như một số đề xuất hiện nay bởi trợ cấp khuyến khích việc chia sẻ trách nhiệm chăm sóc trẻ cho các thành viên khác thay vì đặt gần như mọi gánh nặng lên vai người mẹ.
Một chính sách quan trọng khác là truyền thông để nâng cao nhận thức của phụ nữ về quyền lợi khi tham gia BHXH tự nguyện. PGS.TS Trần Thị Minh Thi chia sẻ các khảo sát do nhóm nghiên cứu thực hiện cho thấy nhiều phụ nữ ở cộng đồng sẵn sàng bỏ tiền mua BHXH tự nguyện nhưng không biết mua ở đâu và không hiểu rõ BHXH có những quyền lợi gì, bao gồm chế độ thai sản. Ngoài ra, cần đầu tư vào hệ thống nhà trẻ công lập để giúp phụ nữ cân bằng giữa công việc và chăm sóc con cái.
Bài đăng KH&PT số 1352 (số 28/2025)
Trà My

