Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa đề xuất từ năm 2027, các trường không được sử dụng điểm cộng do mình tự quy định cho chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế trong tuyển sinh đại học [1]. Đề xuất mới lập tức gây nhiều ra nhiều luồng tranh luận trên báo chí và mạng xã hội.
Những tranh luận này cho thấy xã hội Việt Nam rất quan tâm đến giáo dục nhưng lại khó đi đến đồng thuận. Nguyên nhân có thể do người tham gia đứng ở những tầng khác nhau của vấn đề: tầng kỹ thuật xây dựng bài thi, tầng sử dụng kết quả, hay tầng chính sách chung.
Học sinh thi tốt nghiệp tại TP HCM, tháng 6/2026. Ảnh: Quỳnh Trần
Trong lý thuyết trắc nghiệm, bài thi là một công cụ đo lường. Một bài thi tốt phải xác định rõ năng lực cần đo và có bằng chứng cho thấy nó thực sự đo được năng lực ấy; các nhiệm vụ trong bài thi phải cho phép thí sinh thể hiện năng lực cần đo; cách chấm phải nhất quán và kết quả phải đủ ổn định.
IELTS, chứng chỉ ngoại ngữ được sử dụng áp đảo trong xét tuyển đại học ở Việt Nam hiện nay, được nhìn nhận rộng rãi là một bài thi có uy tín, với hệ thống xây dựng đề, tổ chức thi, chấm thi và kiểm soát chất lượng được chuẩn hóa cùng một khối lượng nghiên cứu tích lũy qua nhiều năm [2]. Nhưng một bài thi có chất lượng cao không đương nhiên phù hợp với mọi mục đích. Câu trả lời IELTS đo năng lực tiếng Anh tốt đến đâu không trùng với việc kết quả IELTS nên được sử dụng như thế nào trong tuyển sinh.
Với một chương trình giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh, sử dụng IELTS làm bằng chứng về năng lực tiếng Anh đầu vào có cơ sở rõ ràng. Nhưng với các chương trình học bằng tiếng Việt thì câu chuyện đã khác đi.
Ở tầng chính sách, một mặt, chúng ta muốn các trường có quyền tự chủ để quyết định phù hợp với mục tiêu, nguồn lực và bối cảnh của mình. Mặt khác, hệ thống cần bảo đảm những nguyên tắc chung như công bằng, chẳng hạn chính sách tuyển sinh cần trả lời câu hỏi liệu cách sử dụng chứng chỉ ngoại ngữ có chuyển những chênh lệch về điều kiện kinh tế - xã hội có sẵn thành lợi thế hay bất lợi trong cuộc cạnh tranh giành một số lượng chỗ học hữu hạn hay không.
Nhưng công bằng cũng không có nghĩa là chỉ được sử dụng những công cụ mà tất cả mọi người đều có thể tiếp cận như nhau. Nếu một chương trình thực sự cần sinh viên có một mức tiếng Anh nhất định để theo học, việc sử dụng công cụ phù hợp với yêu cầu ấy vẫn là chính đáng.
Nhìn từ ba tầng trên, lập luận của Bộ không nằm ở chất lượng của chứng chỉ ngoại ngữ mà ở cách sử dụng kết quả.
Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học Nguyễn Tiến Thảo dẫn dữ liệu năm 2026 cho thấy hơn 37.300 thí sinh sử dụng chứng chỉ tiếng Anh để được cộng điểm, trong đó trên 35.900 em sử dụng IELTS. IELTS 6.0 - mức phổ biến nhất, chiếm khoảng 22% số thí sinh nhận điểm cộng nhờ chứng chỉ này - được các trường quy đổi thành 26 mức điểm cộng khác nhau. Ở nhóm ngành thuộc tốp 5% điểm chuẩn cao, với ngưỡng tham chiếu 26,09/30, hơn 30% người nhập học có điểm cộng [1].
Các số liệu đó không cho phép kết luận một thí sinh có điểm cộng đã "lấy chỗ" của một thí sinh khác. Nhưng chúng cho thấy không thể xem nhẹ điểm cộng trong kết quả tuyển sinh, đặc biệt ở những ngành cạnh tranh cao. Việc IELTS 6.0 được quy định thành 26 mức điểm cộng khác nhau cho thấy, nếu các chương trình có mục tiêu và yêu cầu đầu vào khác nhau, những trọng số khác nhau về nguyên tắc có thể có cơ sở. Nhưng khi điểm cộng có khả năng ảnh hưởng đáng kể đến kết quả tuyển sinh, quyền tự chủ ấy phải đi cùng trách nhiệm giải trình.
Ông Thảo đặc biệt lưu ý đề xuất mới của Bộ GD&ĐT không đồng nghĩa với loại bỏ chứng chỉ ngoại ngữ khỏi tuyển sinh. Nếu ngành đào tạo cần ngoại ngữ, chứng chỉ vẫn được quy đổi để thay thế môn ngoại ngữ. Nếu chương trình giảng dạy bằng ngoại ngữ có yêu cầu đầu vào, chứng chỉ vẫn được dùng để xác nhận thí sinh đáp ứng yêu cầu.
Đồng thời, ông nhấn mạnh rằng công bằng trong tuyển sinh là bảo đảm thí sinh cùng dự tuyển vào một ngành được đánh giá theo cùng tiêu chí. Đây là điều kiện cần nhưng chưa đủ: bản thân tiêu chí ấy còn phải bảo đảm phù hợp với mục đích tuyển sinh.
Chẳng hạn, khi một ngành không yêu cầu ngoại ngữ nhưng vẫn cộng điểm cho chứng chỉ ngoại ngữ thì cần giải thích vì sao năng lực ấy được đưa vào công thức tuyển sinh; nếu tổ hợp đã có môn tiếng Anh mà chứng chỉ ngoại ngữ tiếp tục được cộng điểm, cần giải thích vì sao năng lực ngoại ngữ được ghi nhận hai lần.
Nói cách khác, trước khi hỏi một chứng chỉ ngoại ngữ tương đương bao nhiêu điểm tiếng Anh tốt nghiệp THPT, cần hỏi hai kết quả này tương đương về phương diện nào, được dùng cho mục đích gì, và có bằng chứng nào làm cơ sở cho việc quy đổi [3].
Xét từ góc độ đó, đề xuất mới của Bộ là một bước đi theo hướng minh bạch và có cơ sở hơn trong một hệ thống tuyển sinh đã tích tụ quá nhiều cách cộng điểm và quy đổi khác nhau. Việc không còn để từng trường tự quy định điểm cộng IELTS là hoàn toàn có cơ sở khi những khác biệt nảy sinh có khả năng ảnh hưởng đáng kể đến kết quả tuyển sinh nhưng lại chưa được giải trình đầy đủ.
Yêu cầu về tính minh bạch và có cơ sở của các tiêu chí tuyển sinh cũng cần được áp dụng cho những phương án thay thế có thể được triển khai tới đây. Một bài thi tốt chỉ cung cấp cho chúng ta một phép đo tốt. Từ phép đo ấy đến một quyết định đúng đắn còn cần bằng chứng, sự minh bạch và trách nhiệm đối với những hệ quả mà quyết định đó tạo ra.
---
Chú thích:
[1] IELTS 6.0 tạo ra 26 mức điểm cộng 'gây bất công'. Vnexpress, 21/9/2026. https://vnexpress.net/ielts-6-0-tao-ra-26-muc-diem-cong-gay-bat-cong-5122729.html
[2] IELTS, "How We Develop the Test," IELTS.org. Tài liệu chính thức mô tả quy trình xây dựng và thử nghiệm câu hỏi, chuẩn hóa, xây dựng đề và kiểm soát chất lượng của IELTS; IELTS cũng duy trì chương trình nghiên cứu và công bố các thống kê kỹ thuật của bài thi. https://ielts.org/organisations/ielts-for-organisations/how-we-develop-the-test
[3] Sara T. Cushing, "Beyond Score Correlations: A Content Comparison of IELTS Academic and TOEFL iBT® Tests in the Context of a Score Concordance Study," IELTS Research Reports, 2026. Nghiên cứu cho thấy việc xây dựng bảng đối sánh điểm (score concordance) không thể chỉ dựa vào tương quan điểm số mà còn phải xem xét mức độ tương đồng giữa nội dung và cấu trúc năng lực mà các bài thi đo lường. https://ielts.org/researchers/our-research/research-reports/beyond-score-correlations