Tháng Ba vừa qua, Cục Sở hữu Trí tuệ Quốc gia Trung Quốc (CNIPA) đã hoàn thành đợt sàng lọc đầu tiên đối với hơn 1,3 triệu bằng sáng chế do các trường đại học và viện nghiên cứu trên toàn quốc nắm giữ. Ba năm qua, họ đã xác định 680.000 bằng sáng chế có tiềm năng thương mại hóa cao và kết nối chúng với 460.000 doanh nghiệp có thể hiện thực hóa các ý tưởng đó.
Chỉ một phần nhỏ bằng sáng chế thuộc sở hữu của các trường đại học Trung Quốc được thương mại hóa. Ảnh: Getty
Nhờ vậy, khoảng 80.000 bằng sáng chế từ các trường đại học và viện nghiên cứu đã được thương mại hóa trong giai đoạn từ năm 2023–2025, theo CNIPA.
Nỗ lực trên xuất phát từ mong muốn của Chính phủ nhằm chuyển đổi nhiều nghiên cứu hơn thành sản phẩm và dịch vụ. Trung Quốc hiện nắm giữ hơn 5 triệu bằng sáng chế phát minh trong nước, nhưng tỷ lệ thương mại hóa bằng sáng chế của các trường đại học năm 2022 chỉ đạt 3,9%, theo Tân Hoa Xã.
"Đến cuối năm 2025, tỷ lệ thương mại hóa các bằng sáng chế từ các trường đại học và viện nghiên cứu đã đạt lần lượt 10,1% và 17,2%, cho thấy sự cải thiện đáng kể so với giai đoạn trước khi triển khai kế hoạch", Hu Wenhui, Phó Cục trưởng CNIPA, nhận định.
Marina Zhang, chuyên gia về đổi mới sáng tạo tại Đại học Công nghệ Sydney, Úc, cho rằng hoạt động kết nối của Chính phủ sẽ tạo ra mối liên kết bền vững giữa giới học thuật và các ngành công nghiệp.
Robert Conn, người nghiên cứu về các hoạt động tài trợ cho khoa học tại Đại học California, San Diego, Mỹ, nhận định đây là một cách tiếp cận mới nên còn quá sớm để đánh giá hiệu quả lâu dài. Tuy nhiên, ông tin rằng mô hình này có thể phát huy tác dụng, bởi vì các doanh nghiệp tại Trung Quốc thường sẵn lòng tuân thủ chỉ thị từ Chính phủ. "Hệ thống của Trung Quốc vận hành theo cơ chế từ trên xuống, với nhà nước đóng vai trò trung tâm trong việc thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác và định hướng phát triển," Conn nói.
Bộ Giáo dục Trung Quốc cũng đang nghiên cứu việc sử dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn để xác định giá trị tiềm năng của bằng sáng chế từ các trường đại học và những ứng dụng khả thi của chúng, Zhou Dawang, một quan chức của Bộ, cho biết.
Những rào cản mang tính hệ thống
Các trường đại học Trung Quốc đã khuyến khích mạnh mẽ việc đăng ký bằng sáng chế và gắn hoạt động này với tiến trình thăng tiến nghề nghiệp của các nhà nghiên cứu, theo Li Tang, nhà nghiên cứu chính sách công tại Đại học Phúc Đán, Thượng Hải. "Nhưng đôi khi, điều này dẫn đến tình trạng mà chúng ta có thể gọi là 'đăng ký sáng chế mang tính chiến thuật' – trong đó các nhà khoa học đăng ký bằng sáng chế chỉ để đáp ứng những tiêu chí đánh giá thay vì phục vụ mục tiêu thương mại hóa sau này", Tang nhận định.
Trên thực tế, nhiều bằng sáng chế vẫn chưa chứng minh được tính hiệu quả hoặc sự cần thiết của chúng, Zhang cho biết.
Trung Quốc đã áp dụng các cơ chế khen thưởng nhằm khuyến khích những cá nhân hoặc tổ chức đã thương mại hóa thành công nghiên cứu thay vì chỉ dừng ở đăng ký bằng sáng chế. Trong ảnh: Một thí nghiệm robot hình nhân trong môi trường giả lập quán cà phê tại một trung tâm công nghệ ở Vũ Hán. Nguồn: Tân Hoa Xã
Bên cạnh nỗ lực kết nối các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp, Chính phủ Trung Quốc đã áp dụng các cơ chế khen thưởng nhằm khuyến khích những cá nhân hoặc tổ chức đã thương mại hóa thành công nghiên cứu thay vì chỉ dừng ở đăng ký bằng sáng chế.
Zhang tiết lộ rằng Chính phủ Trung Quốc cũng đang thực hiện các biện pháp để tháo gỡ những rào cản mang tính hệ thống đang kìm hãm quá trình thương mại hóa nghiên cứu.
Các rào cản đó bao gồm những quy định không rõ ràng về việc ai được chia sẻ lợi nhuận từ bằng sáng chế, cũng như tình trạng thiếu hụt các chuyên gia chuyển giao công nghệ – những người giúp giới nghiên cứu chuyển đổi các công nghệ được cấp bằng sáng chế thành sản phẩm thương mại.
Cách tiếp cận khác biệt giữa Mỹ và Trung Quốc
Cách tiếp cận trong đó nhà nước đóng vai trò dẫn dắt ở Trung Quốc trái ngược với cách làm ở các quốc gia khác như Mỹ, nơi việc chuyển đổi nghiên cứu thành sản phẩm thương mại chủ yếu dựa trên nhu cầu của thị trường - Conn nhận định. Các nhà đầu tư mạo hiểm Mỹ thường lui tới các trường đại học để tìm kiếm những ý tưởng đổi mới sáng tạo mà họ có thể rót vốn.
Đạo luật Bayh–Dole ra đời năm 1980 cho phép các trường đại học, viện nghiên cứu Mỹ sở hữu và khai thác thương mại các sáng chế do Chính phủ tài trợ. Họ có thể cấp phép cho doanh nghiệp sử dụng sáng chế của mình mà không bị nhà nước can thiệp. Ngoài ra, các khoản hiến tặng và nguồn vốn tư nhân cũng góp thêm phần hỗ trợ quá trình chuyển đổi từ nghiên cứu cơ bản đến ứng dụng thực tiễn.
Trong khi đó, nhiều năm qua, nguồn tài trợ nghiên cứu của Trung Quốc chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực gắn với sản xuất và khoa học ứng dụng thay vì nghiên cứu cơ bản, Conn cho biết. Do lĩnh vực đầu tư mạo hiểm ở Trung Quốc có quy mô nhỏ hơn và chưa gắn chặt với hệ sinh thái nghiên cứu như ở Mỹ, sự can thiệp của nhà nước có thể bù đắp phần nào hạn chế này.
Tuy nhiên, theo Conn, các nguồn hiến tặng đổ vào nghiên cứu khoa học ở Trung Quốc đang có xu hướng tăng lên. Nguồn tiền này thường hỗ trợ cho các nghiên cứu ở giai đoạn đầu, có độ rủi ro cao mà các nhà đầu tư mạo hiểm và cơ quan cấp vốn của nhà nước thường không muốn tài trợ.
Trung Quốc cho thấy rõ quyết tâm của mình khi mới đây đã công bố kế hoạch tăng tổng chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển (R&D) ít nhất 7% mỗi năm trong vòng 5 năm tới.
Quốc Hùng tổng hợp
---
Tài liệu tham khảo:
China’s latest push to commercialize research: match 680,000 innovators with companies. Nature. https://www.nature.com/articles/d41586-026-01202-7
China completes patent screening at universities, research institutions to enhance commercialization. Xinhua. https://english.news.cn/20260323/b6b98d4550e440dda8c7502e34fd556e/c.html