Nhìn lại 5 năm qua có thể thấy một vài vấn để nổi cộm cần "chữa trị".
KHCN chưa xuất phát từ cuộc sống
Bà Nhữ Thị hồng Liên-Phó chủtịch UBND Tỉnh Quảng Ninh |
Ông Nguyễn Huy Lâm-Giám đốc Sở KHCN Hà Tĩnh |
TS.Võ Ngọc Anh-Giám đốc Sở KH&CN Bình Định |
Ông Trần Văn Minh-Giám đốc Sở KHCN Quảng Ninh |
Các nhà nghiên cứu nông nghiệp Israel không xa cách với nông dân, gần gũi với đồng ruộng, và đặc biệt, luôn coi trọng những kinh nghiệm trong sản xuất của họ. Từ viện nghiên cứu hay trường đại học, họ có thể "đi vèo" tới các cánh đồng. Không bao giờ các nhà nghiên cứu nông nghiệp Israel có thái độ kẻ cả khi tới ruộng. Do gần gũi với nông dân, hoặc chính gia đình mình là nông dân nên các nhà nghiên cứu nông nghiệp giải quyết các vấn đề của đồng ruộng với tư cách bạn bè. Mặt khác, sức ép thiếu đất và giá nước rất đắt khiến các nhà nghiên cứu nông nghiệp phải bằng mọi cách đẩy năng suất lên cao nhất. Israel là nước phát minh ra hệ thống tưới nhỏ giọt (dip irrigation) điều khiển bằng máy tính, không một giọt nước bị bỏ phí. Trình độ nông dân của Israel cũng rất cao, tất cả họ đều đã học xong trung học; nhiều người sau khi học xong đại học đã quay lại đồng ruộng, sau đó lại mang kinh nghiệm đồng áng của mình tới trường đại học. Đại sứ Isreal Effie Ben - Matityan trả lời phỏng vấn Tia Sáng |
Ví dụ được hai vị lãnh đạo các sở KH&CN đưa ra chỉ là hai trong rất nhiều "bài toán ẩn" còn nằm trong tay người nông dân. Điều đó cho thấy một thực tế: các nhà khoa học phải chủ động bắt tay với người nông dân để tìm kiếm bài toán từ chính họ, và cũng nên tạo điều kiện để những con người hàng ngày phải bán mặt cho đất, bán lưng cho trời "đặt hàng" các thượng đế khoa học. Và cứ chiếu theo những gì đang diễn ra hiện nay, về khía cạnh này, chúng ta còn rất yếu và lúng túng, nhà khoa học chưa thực sự chủ động. Nên cũng dễ hiểu khi vẫn còn những đề tài "đắp chiếu". Để tăng cường hiệu quả của KHCN trong sản xuất thì ngoài khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư cần phải đẩy mạnh khuyến... khoa học. Đến lúc này thì nhà khoa học phải đến đầu bờ và phải tự đi tìm việc.
![]() Hàng hóa trôi nổi trên thị trường chủyếu là sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc. |
Để kết lại, ông Văn kể một câu chuyện vui: Một đoàn khoa học của ta sang học hỏi kinh nghiệm của một nước bạn. Một vị "chức sắc" có hỏi về kinh nghiệm của nước bạn gắn KHCN vào cuộc sống như thế nào? Câu trả lời nhận được là, "KHCN của chúng tôi có tách rời cuộc sống bao giờ đâu mà gắn!".
"Chưa cùng một nhà"
Ở các địa phương, KHCN chưa "bắt đúng mạch" cuộc sống, và nếu có thì hiệu quả vẫn còn khá thấp, chưa thể coi là đòn bẩy phát triển kinh tế xã hội. Giữa các địa phương vẫn xảy ra tình trạng "mạnh ai người đó làm". Nguyên do là vì tính liên thông, liên hoàn và gắn kết địa phương và Trung ương (cụ thể là Bộ KH&CN), giữa các địa phương với nhau chưa thực sự chặt chẽ, đồng bộ và sát sao. Thông tin về các hoạt động KHCN vẫn còn "tù mù". Do vậy mới xảy ra chuyện một địa phương không biết Bộ và địa phương khác đã và đang làm gì, dẫn đến hoạt động KHCN chồng chéo gây tốn tiền bạc, thời gian và sức lực của cả nhà quản lý và nhà khoa học. Ông Minh cho biết, "Với những gì đang diễn ra hiện nay thì Bộ không biết các sở làm gì". Còn như PGS.Lê Trần Lâm-Sở KH&CN Hà Nội-phản ánh, "Mối liên hệ hợp tác giữa các tỉnh như thông tin về KHCN chưa có hệ thống: Hà Nội làm gì hàng năm, hay 10 chương trình của Bộ không ai nắm được". Bên cạnh đó, mối liên hệ lãnh đạo giữa các sở còn lỏng lẻo, và công nghệ thông tin vẫn chỉ là sợi chỉ chắp nối, không liên tục. Vì vậy ông Lâm kiến nghị làm thế nào để nguồn thông tin giữa Trung ương và các địa phương kết nối thành một mạng chung để các tỉnh có thể trao đổi kinh nghiệm và kiến nghị thường xuyên.
![]() Nông dân vẫn phải dùng "công nghệ"thủ công để tát nước vào ruộng. |
Có tiền mà không biết tiêu...
Ở các địa phương, có một nghịch lý đang tồn tại đó là sự mất cân đối giữa nguồn nhân lực, cơ sở vật chất với kinh phí đầu tư cho đề tài. Hầu như trong hệ thống quản lý KHCN ở những nơi này không có cán bộ đầu ngành và rất "cháy" những cán bộ có học hàm, học vị. Cơ sở vật chất khá nghèo nàn cộng với khả năng nhạy bén trong việc tìm kiếm bài toán và lời giải KHCN để giải quyết những yêu cầu của bà con nông dân cũng như phát triển kinh tế xã hội của địa phương còn thấp. Chẳng hạn như xác định nhiệm vụ KH, đổi mới và thực hiện các nhiệm vụ KHCN. Chính vì vậy mới xảy ra tình trạng "có tiền mà không biết tiêu". Bà Nhữ Thị Kim Liên cho biết, "Các huyện thị của tỉnh chỉ tiêu hết 5% kinh phí được cấp do không biết làm gì".
Việc đầu tư thiếu đồng bộ nên mới xảy ra việc "trả lại tiền cho chủ". Các nhà quản lý và nhà khoa học đều cho rằng, việc đầu tư đào tạo tăng cường đội ngũ nghiên cứu, kỹ thuật viên đồng thời xây dựng cơ sở vật chất và xác định nhiệm vụ KHCN là việc làm trước hết. TS.Hồ Ngọc Luật, Vụ Khoa học Tự nhiên-Công nghệ-Môi trường, Ban Tuyên giáo Trung ương, cho rằng, "Ở cấp tỉnh đang thiếu một lực lượng KH&CN chuyên nghiệp có thể lăn lộn, trăn trở cùng với những khó khăn, bức xúc hàng ngày của thực tế đời sống sản xuất kinh doanh, đứng ra đảm nhiệm những công việc quan trọng của KHCN trong vùng". Ông Minh cho biết, "Khi phân cấp quản lý, cấp kinh phí và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng địa phương, nhưng họ chỉ làm được 50% do không có nhân lực".
Ngoài ra cũng tồn tại một lý do khác đó là việc ban hành các văn bản pháp quy. Nghiên cứu chi tiết nhiệm vụ KH&CN cụ thể ở từng địa phương, ban hành các văn bản pháp quy phù hợp cũng góp phần giúp Nhà nước "chọn mặt gửi vàng". Ý kiến một số lãnh đạo các sở KH&CN đều cho rằng, các văn bản pháp quy Bộ ban hành còn mang tính vĩ mô, cấp quản lý Nhà nước và chú trọng vào các hoạt động của Bộ nhưng tính địa phương còn rất hạn chế. Do đó, tỉnh lại phải một lần nữa cụ thể hóa cho phù hợp với tính chất và nhiệm vụ địa phương cụ thể. Và chính việc thể chế hóa này sẽ gây tốn nhiều thời gian và tiền bạc.
Như vậy, ở nước ta hiện nay đang tồn tại nghịch lý, kinh phí đầu tư cho KH&CN vẫn còn thấp, nhưng lại vẫn xảy ra hiện tượng "có tiền mà không biết tiêu" đành phải "trả lại tiền cho chủ". Nghịch lý cần được tháo gỡ!?
Chậm mà... chắc
Vấn để nổi cộm cuối cùng chính là việc thực hiện Nghị định 115 ở các địa phương trong cả nước. Đã hai năm kể từ khi Nghị định 115 được Chính phủ ban hành và có thể nói, đây là cột mốc quan trọng mà các nhà hoạch định chính sách ví như "khoán 10" trong nông nghiệp, là khâu đột phá để đưa nền khoa học nước nhà thoát khỏi sự trì trệ của cơ chế bao cấp. Ngay cả đối với các viện và trung tâm nghiên cứu trung ương việc chuyển đổi còn chưa rõ ràng. Trong khi về đến các địa phương, một số nơi hồ hởi đón nhận còn một số nơi lại "phớt lờ" sự chỉ đạo của cấp trên. Điểm lại các địa phương sẽ thấy việc thực hiện Nghị định 115 là rất khó khăn và chậm trễ: số lượng các đề án phê duyệt chỉ chiếm khoảng 8.5% các tổ chức KHCN cần chuyển đổi; tổ chức KHCN đã chuẩn bị xong đề án chờ phê duyệt chiếm khoảng 57.3%. Tư tưởng viên chức, người lao động địa phương trở nên hoang mang bởi vốn được sống trong bao cấp nay phải nai lưng phó mặc thị trường quyết định. Ông Nguyễn Huy Lâm tâm sự, "Với các tổ chức KHCN địa phương, các trung tâm quy mô nhỏ với vài chục cán bộ, giá trị tài sản dưới 1 tỷ đến vài ba tỷ thì Nghị định 115 bắt đầu với những thách thức khá nặng nề. Cơ hội thì rất lớn nhưng họ chưa thể với tới được, còn thách thức thì ngay trước mắt". Trong quá trình xây dựng đề án và trong quá trình chuyển đổi sẽ có bao nhiêu trung tâm có thể vượt qua những thách thức để tồn tại rồi sau đó mới với tới được những cơ hội?
Thậm chí một số tỉnh còn lúng túng chưa xác định được đối tượng cần chuyển đổi. Ở các địa phương, các trung tâm đều là quy mô nhỏ. Cơ sở vật chất, tiềm lực tài chính và cơ chế ở những nơi này chưa đủ mạnh: định mức chưa có để tính đúng, tính đủ; không có vốn tham gia đấu thầu, không có thế chấp, và hơn nữa, quá trình vay vốn gặp nhiều khó khăn. Ở nhiều tỉnh văn bản hướng dẫn chuyển giao quyền tự chủ còn nhiều ràng buộc do tỉnh quy định. Ngoài ra, một mặt đội ngũ viên chức chưa năng động, chưa sẵn sàng thích ứng với cơ chế thị trường KHCN, mặt khác thị trường KHCN ở nhiều tỉnh chưa rõ ràng hoặc nếu có thì hoạt động rất manh mún. Ở những nơi vùng sâu, vùng xa thậm chí chưa có thị trường KH&CN. Nhìn chung, nhu cầu ứng dụng công nghệ ở các địa phương trong cả nước còn thấp. TS.Luật nhận định, "Đa phần các tỉnh có nền kinh tế nông nghiệp là chủ đạo, nguồn thu ngân sách hàng năm mới chỉ đáp ứng được khoảng một phần ba, một phần hai nhu cầu chi ở địa phương nên chính quyền ở đây không có điều kiện đầu tư cho cơ sở hạ tầng nông thôn và nông nghiệp. Còn ở những vùng sâu, vùng xa, do nhận thức còn thấp nên thuyết phục bà con từ bỏ phương thức canh tác thủ công truyền thống để tiếp nhận kỹ thuật canh tác mới, tiến bộ là một việc không dễ". Ông Trần Quốc Khánh-Bộ KH&CN-cho biết, "Các tổ chức KH&CN ở những địa phương vùng sâu, vùng xa có nhiệm vụ chủ yếu là phục vụ nông, lâm, ngư nghiệp là chính nên sẽ rất khó khăn khi chuyển đổi sang cơ chế tự trang trải".
Theo TS.Lê Văn Toán-Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng Khoa học Nông lâm Quảng Ninh-thì, "Các đơn vị còn bị động chưa thích ứng với tình hình. Vì vậy nên kéo dài thời gian thực hiện Nghị định 115". Do cơ sở vật chất, nhân lực KHCN ở địa phương không thể so sánh với những viện, trung tâm nghiên cứu ở trung ương, nên theo ông, Trung ương làm trước, địa phương làm sau; địa phương giàu làm trước, địa phương nghèo làm sau. Ở đây không thể "đánh đồng" các Trung tâm KHCN ở các tỉnh với các viện, trung tâm nghiên cứu Trung ương. Còn TS.Bùi Thanh Tùng cho biết, "Hải Phòng chưa có đơn vị nào làm đề án chuyển đổi. Chậm nhưng mà chắc". Nhiều ý kiến của lãnh đạo các sở KH&CN và các nhà khoa học cho rằng, vì kinh phí ở địa phương ít nên trước mắt cứ để ở Nghị định 43 rồi dần dần mới chuyển sang Nghị định 115. Theo TS.Võ Ngọc Anh-Sở KH&CN Bình Định, "Nếu không được đầu tư đúng mức khi chuyển đổi thì chẳng khác nào "đem con bỏ chợ". Vì vậy đi đường vòng nhưng hệ số an toàn cao sẽ tốt hơn". Đa phần ở các địa phương tâm lý lo ngại thời gian chuẩn bị chuyển đổi được ngân sách hỗ trợ kinh phí hoạt động thường xuyên đến cuối năm 2009 là quá ngắn.





