![]() Huy chương Nobel - mẫu doQuỹ Nobel thiết kế thời kì đầu. | ![]() Huy chương Nobel cho Vật lý và Hóa học |
Người theo chủ nghĩa "siêu lý tưởng"
![]() Huy chương Nobel cho Y học | ![]() Huy chương Nobel cho Văn học |
Dù bi kịch khủng khiếp nhưng Nobel vẫn tiến hành thí nghiệm. Và tháng 5/1866, ông đã trình diễn loại thuốc nổ hiệu quả và an toàn làm từ nitroglycerin trên dốc đá ở đường 83, giữa Đại lộ số 5 và số 8. Năm 1867, tình cờ Nobel phát hiện ra khi nitroglycerin nhỏ vào đất tảo cát (kieselguhr), nó trở thành thứ thuốc nổ dẻo và an toàn hơn hẳn nitroglycerin dạng lỏng. Ông gọi đó là dynamite, sau đó đăng kí sáng chế và bắt đầu mở nhà máy sản xuất ở Châu Âu.
![]() Huy chương Nobel cho Hòa Bình |
Lý do của giải Nobel Hòa bình ít rõ ràng hơn. Nhiều người nói rằng ông muốn bù đắp cho phát minh hủy diệt. Tuy nhiên thuốc nổ của ông, trừ cho đạn pháo, còn không được dùng trong bất kì cuộc chiến tranh nào trong suốt cuộc đời ông. Quan trọng hơn, dynamite có tác dụng lớn trong khai mỏ, làm đường, kênh, làm đường hầm xuyên dãy Apls giữa Italy và Thụy Sĩ, v.v. Nobel cũng từng nói rằng các nhà máy thuốc nổ của mình sẽ chấm dứt chiến tranh còn nhanh hơn việc đàm phán hòa bình, bởi "hai quân đội có thể tiêu diệt nhau trong nháy mắt, sau đó các quốc gia văn minh sẽ phục hồi và giải tán quân đội".
Nobel không hạnh phúc trong tình yêu. Ông chưa bao giờ kết hôn và miêu tả mình là kẻ cô đơn. Khi anh trai Nobel bảo ông viết tự truyện, ông đọc: "Alfred Nobel - kẻ dở sống dở chết đáng thương bị các bác sĩ làm tình làm tội". Một lần khác Nobel lại tự miêu tả mình là kẻ lánh đời: "Rơi vào đống hỗn độn, tôi là kẻ theo chủ nghĩa siêu lý tưởng, chìm đắm trong thế giới tinh thần hơn là thế giới vật chất".
Trao nhầm và bỏ sót
Di chúc của Nobel viết rằng ông muốn trao giải cho "những ai đã mang lại lợi ích lớn lao cho loài người" trên năm lĩnh vực. Có rất nhiều ứng ứng cử viên cho giải Nobel đầu tiên là những nhà khoa học lừng lẫy: Emil von Behring (Đức), người đã chế ra vắc-xin bạch hầu; Whinelm Konrad Roetgen (Đức), nhà vật lý phát hiện ra tia X; Jacobus H. van’t Hoff (Hà Lan), tìm ra luật động hóa học và áp suất thẩm thấu trong các dung dịch.
Hệ thống tuyển chọn tìm ra người để trao giải Nobel cũng rất tốn kém. Tiến sĩ Jornvall, một viên chức của Quỹ Nobel nói việc này phải mất khoảng 1.4 triệu USD. Việc tuyên bố người thắng giải diễn ra trong tháng 10, nhưng việc tìm kiếm ứng cử viên thì đã bắt đầu từ một tháng trước đó. Đến tháng 6 thì Viện Karolinska trưng cầu ý kiến của 3.000 nhà khoa học và quản lý khoa học để tìm ra 31 nhà nghiên cứu có khả năng nhất cho giải năm sau.
Giải Nobel nhằm vinh danh phát minh, không phải cho thành tựu sự nghiệp. Những người đề cử có thể đưa ra bao nhiêu ứng cử cũng được, song họ thường không đưa ra nhiều để tránh bị "loãng". Những tháng sau đó, một hội đồng sẽ chọn ra những ứng cử viên sáng giá nhất. Tuy nhiên có nhiều ý cho rằng trong lịch sử, các hội đồng này cũng đã nhầm lẫn và bỏ sót nhiều người. Như trường hợp tiến sĩ Egas Moniz (Bồ Đào Nha), giải Nobel năm 1941 cho phẫu thuật thùy não để chữa rối loạn tâm thần là một sai lầm ảnh hưởng nghiêm trọng tới uy tín giải. Khi đó báo chí cũng vội vã vui mừng cho rằng việc phẫu thuật thùy não đã mở ra một kỉ nguyên mới trong điều trị bệnh tâm thần. Những năm sau đó, phẫu thuật thùy não được thực hiện ở một số bệnh nhân, trong đó có cả em gái của John Kennedy. Nhờ uy tín của giải Nobel, các cuộc phẫu thuật kiểu này thường được tiến hành trong các bệnh viện hàng đầu ở nhiều nước. Nhưng kết quả là vô nghĩa. Như em gái của Kennedy, từ một người chậm chạp, bà đã thành người tàn phế sau cuộc phẫu thuật. Hai giải Nobel cho những phát minh không đáng tin cậy khác là của Johannes Fibger vì đã tìm ra carcinoma Spiroptera (năm 1926) và Julius Wagner-Jauregg vì khám phá tiêm kí sinh sốt rét có giá trị trong điều trị bệnh não. Việc điều trị như vậy không những những không hiệu quả mà còn rất nguy hiểm.
Những vụ việc đó đã làm hội đồng xét giải thận trọng hơn nhiều. Giờ đây giải Nobel thường chỉ được trao cho những phát minh đã được kiểm nghiệm trong nhiều năm. Chính vì thế mà hội đồng bị chỉ trích vì đã chậm chễ, thường là hàng thập kỉ, giữa phát minh và trao giải. Phải mất hơn 50 năm, Peyton Rous mới được vinh danh nhờ phát hiện loại virus gây ung thư. Ngoài ra có nhiều người được cho là xứng đáng mà không được trao giải, như Herbert W. Boyer và Stanley N. Cohen. Giữa những năm 70, họ đã phát triển kĩ thuật cloning, làm cở sở cho việc cấy ghép gen và phát minh ra một loạt loại thuốc mới ngày nay.




