Chương trình phát triển khoa học cơ bản trong lĩnh vực Hóa học, Khoa học sự sống, Khoa học trái đất và Khoa học biển giai đoạn 2017-2025 (Chương trình 562) được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2017, giao Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, nhằm nâng cao tiềm lực nghiên cứu cơ bản của Việt Nam trong bốn lĩnh vực nói trên.
Chương trình tập trung đầu tư cho các nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển đội ngũ và nhóm nghiên cứu mạnh, phòng thí nghiệm và hạ tầng nghiên cứu, đào tạo nhân lực, công bố quốc tế và hợp tác quốc tế.
Nguồn lực được triển khai qua nhiều kênh, gồm các nhiệm vụ cấp quốc gia do Bộ KH&CN tổ chức; nhiệm vụ cấp bộ tại các viện, trường và cơ chế tài trợ nghiên cứu cơ bản thông qua Quỹ NAFOSTED. Cụ thể, Chương trình 562 triển khai tổng cộng 95 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia. Bên cạnh đó, cũng trong khuôn khổ Chương trình, Quỹ NAFOSTED đã tài trợ mở mới 901 đề tài nghiên cứu cơ bản thuộc các lĩnh vực này.
Tàu Viện sĩ Oparin neo đậu tại vịnh Nha Trang trong một chuyến khảo sát vào năm 2025. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ về tăng cường năng lực khảo sát khoa học biển của Chương trình 562, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam phối hợp với phía Nga thực hiện bốn chuyến khảo sát bằng tàu nghiên cứu Viện sĩ Oparin, thu thập dữ liệu và mẫu vật phục vụ nghiên cứu đa dạng sinh học, hóa sinh, vi nhựa và eDNA ở vùng biển Việt Nam. Ảnh: Hà Anh
Sau 8 năm thực hiện, Chương trình đã tạo ra nhiều kết quả thiết thực trên cả bốn lĩnh vực. Phát biểu tại Hội thảo tổng kết Chương trình vào ngày 31/9, Thứ trưởng Bộ KH&CN Trần Trung Tính cho rằng "năng lực và vị thế nghiên cứu của Việt Nam tiếp tục được củng cố và nâng cao, đã hình thành và phát triển một số nhóm nghiên cứu mạnh; đội ngũ nhân lực khoa học, lực lượng nghiên cứu sau đại học được tăng cường. Một số hướng nghiên cứu định hướng ứng dụng bắt đầu phát huy hiệu quả. Mạng lưới hợp tác trong nước và quốc tế được mở rộng, đặc biệt trong một số lĩnh vực khoa học chuyên sâu."
Những kết quả ấn tượng
Nhiều đề tài trong Chương trình 562 bước đầu đã mang lại những kết quả nghiên cứu quan trọng.
Ở lĩnh vực Hóa học, các chuyên gia đã phát triển quy trình thu hồi kim loại từ pin thải và bào chế các chế phẩm hỗ trợ điều trị bệnh từ dược liệu bản địa.
Lĩnh vực Khoa học sự sống ghi dấu ấn với việc giải mã dữ liệu di truyền người Việt, ứng dụng công nghệ CRISPR/Cas9 tạo giống lúa chịu hạn, và sáng chế "xi măng sinh học" tự liền vết nứt bê tông.
Trong nhóm Khoa học Trái đất, các đề tài tập trung phát triển công cụ cảnh báo sớm sạt lở, động đất và mô phỏng dự báo bão, phục vụ trực tiếp cho công tác phòng chống thiên tai.
Ở lĩnh vực Khoa học Biển, bên cạnh 7 chuyến khảo sát thực địa hợp tác cùng chuyên gia Nga và Pháp để thu thập dữ liệu đa dạng sinh học, các nghiên cứu về giám sát ô nhiễm môi trường biển và rác thải nhựa cũng được đầu tư mạnh.
Việc thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ các cấp trong khuôn khổ Chương trình 562 đã góp phần hình thành 26 nhóm nghiên cứu mạnh tại ĐH Quốc gia Hà Nội, ĐH Quốc gia TPHCM, và Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam.
Bên cạnh đó, vị thế của bốn lĩnh vực cũng được cải thiện rõ rệt. Ông Vũ Văn Đạt (Vụ Khoa học Xã hội, Nhân văn và Tự nhiên, Bộ KH&CN) cho biết, trước khi triển khai Chương trình, bốn lĩnh vực trên xếp ở nhóm 52-60 thế giới (năm 2016). Đến năm 2025, theo dữ liệu từ SCImago, các lĩnh vực này đã vươn lên nhóm 37-48 toàn cầu.
Đi cùng sự thay đổi thứ hạng là sự gia tăng về số lượng công bố quốc tế ở bốn lĩnh vực, đều đặn khoảng 20% mỗi năm, từ con số 5.883 bài vào năm 2016. "Đặc biệt chất lượng các công trình công bố trên tạp chí có chỉ số ảnh hưởng IF cao ngày càng tăng, có một số công bố thuộc danh mục Science và Nature", báo cáo tổng kết kết quả cho biết.
Sự phát triển chưa đồng đều giữa bốn lĩnh vực
Bên cạnh những kết quả đạt được, Chương trình 562 còn bộc lộ một số hạn chế, trong đó rõ nhất là sự phát triển chưa đồng đều giữa bốn lĩnh vực. Những kết quả nổi bật hiện chủ yếu tập trung ở các lĩnh vực có thế mạnh truyền thống như Hóa học và Khoa học sự sống. Ngược lại, Khoa học Trái đất và Khoa học biển vẫn đang gặp nhiều khó khăn trong việc hình thành lực lượng nghiên cứu đủ mạnh và ổn định.
Chẳng hạn, so với hai lĩnh vực còn lại, số lượng nhóm nghiên cứu mạnh được hình thành của Khoa học Trái đất và Khoa học biển ít hơn hẳn. Báo cáo đánh giá một phần nguyên nhân là do số nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia được triển khai trong hai lĩnh vực này còn ít.
Theo ông Vũ Văn Đạt một nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch này là lực lượng nghiên cứu bị phân tán giữa các chương trình có phạm vi chuyên môn gần nhau. Quanh giai đoạn triển khai Chương trình 562 còn có chương trình KC.08 về môi trường, thiên tai và tài nguyên, cùng chương trình KC.09 về biển, hải đảo và kinh tế biển.
Ngoài ra, vấn đề có thể còn xuất phát từ đặc thù của từng ngành. Các nghiên cứu thuộc lĩnh vực Khoa học Trái đất và đặc biệt là Khoa học biển phụ thuộc rất lớn vào khảo sát thực địa, yêu cầu thiết bị chuyên dụng và phương tiện quy mô, dẫn đến kinh phí thực hiện lớn. Mặt khác, tiến độ công việc lại chịu tác động trực tiếp từ điều kiện tự nhiên. Một chuyến khảo sát nếu đụng mùa bão có thể phải lùi lịch sang tận năm sau, khiến quá trình tích lũy dữ liệu và xuất bản kết quả bị kéo dài đáng kể.
Chính vì đòi hỏi quy mô lớn và chịu nhiều rủi ro thời tiết như vậy, quá trình phê duyệt kinh phí cho các đề xuất nghiên cứu ở hai lĩnh vực này cũng thường mất nhiều thời gian và phức tạp hơn.
Khảo sát cho nghiên cứu đánh giá sự tích tụ và độc tính của vi nhựa tại vùng cửa sông ven biển Nam Trung Bộ do ThS Nguyễn Thị Thanh Hoài (Viện Khoa học Khí tượng, Thủy văn và Biến đổi khí hậu - nay là Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển) làm chủ nhiệm. Ảnh: NVCC
Rào cản thủ tục tài chính
Không chỉ Khoa học Trái đất hay Khoa học biển, nhìn chung ở cả bốn lĩnh vực, các đơn vị đều vấp phải những rào cản chung về mặt thủ tục tài chính. Theo ông Võ Văn Đạt, khó khăn lớn nhất hiện nay là việc mua sắm hóa chất, vật tư thí nghiệm chuyên sâu do vướng Luật Đấu thầu. Việc Luật Đấu thầu 2023 phải sang đầu năm 2024 mới có hiệu lực và Nghị định 24/2024/NĐ-CP ban hành muộn đã làm chậm tiến độ giải ngân của hầu hết các đề tài cấp bộ và cấp quốc gia phê duyệt cho giai đoạn 3 năm cuối (2023-2025) của Chương trình 562.
Một khó khăn khác đẩy các nhóm nghiên cứu vào thế bị động là sự lệch pha giữa thời gian nghiên cứu thực tế và thời gian trên kế hoạch. "Chương trình kéo dài khoảng bảy năm, nhưng cuối năm 2017 mới bắt đầu, sang năm 2018 mới thực sự triển khai", ông Đạt phân tích. Sự chậm trễ này khiến quỹ thời gian thực tế dành cho nghiên cứu bị rút ngắn đáng kể so với danh nghĩa.
Từ những vướng mắc cả về thủ tục lẫn thời gian kể trên, có thể thấy nghiên cứu cơ bản cần một chu kỳ đầu tư dài và ổn định hơn. Việc nới rộng quỹ thời gian, chẳng hạn lên 10 năm, sẽ giúp các tổ chức nghiên cứu chủ động theo đuổi các hướng khoa học dài hạn. Đồng thời, cơ chế tài chính, mua sắm, nghiệm thu và quản lý tài sản cần được thiết kế linh hoạt hơn để phù hợp với đặc thù của nghiên cứu cơ bản - vốn luôn đòi hỏi thời gian thử nghiệm dài và tiềm ẩn rủi ro khoa học cao.
Cuối cùng, một thách thức nan giải không kém của Chương trình là làm sao duy trì nguồn nhân lực chất lượng cao. Theo báo cáo tổng kết, các ngành khoa học cơ bản đang gặp khó trong khâu tuyển sinh và giữ chân người trẻ do thu nhập thấp, cơ hội nghề nghiệp hạn hẹp và chế độ đãi ngộ kém cạnh tranh. Thực trạng này dẫn đến hiện tượng "chảy máu chất xám" khi nhiều tiến sĩ trẻ, giảng viên quyết định chuyển sang khối tư nhân hoặc ra nước ngoài tìm cơ hội.