![]() |
Chương trình KC.16 đặt mục tiêu nghiên cứu cơ chế chính sách, giải pháp KH&CN góp phần đạt mức phát thải ròng bằng 0 tại Việt Nam. |
Vào đầu tháng 12/2024, Bộ KH&CN đã chính thức công bố về việc thành lập chương trình KC.16 - một chương trình phát triển khoa học và công nghệ cấp quốc gia phục vụ mục tiêu đạt mức phát thải ròng bằng 0 tại Việt Nam vào năm 2050.
Khác với các chương trình khoa học công nghệ đã có - từ KC.01 phục vụ phát triển chính phủ số và đô thị thông minh đến KC.15 ứng phó với biến đổi khí hậu để phát triển bền vững ở đồng bằng sông Cửu Long - chương trình KC.16 là một cách tiếp cận mới trong việc nhắm một mục tiêu cụ thể và định hướng rõ ràng về sản phẩm: hằng năm, có thể đánh giá được việc đóng góp cụ thể của chương trình đối với tiến trình giảm phát thải ròng của quốc gia - theo chia sẻ của Thứ trưởng Bộ KH&CN Hoàng Minh tại buổi công bố.
Trong các phiên làm việc với Chính phủ thời gian vừa qua, Bộ KH&CN đã được yêu cầu phải khẩn trương triển khai chương trình KH&CN Net Zero này để có được những kết quả đóng góp ngay lập tức, song hành cùng các chương trình môi trường-khí hậu khác. Các nhà lãnh đạo quốc gia cũng nhấn mạnh đến ràng buộc về bối cảnh phát triển của Việt Nam, đòi hỏi rằng các nghiên cứu phải theo nhu cầu xã hội. Điều này đặt ra một thách thức cho giới nghiên cứu, khi vừa phải tạo ra được các kết quả có trình độ thực hành "theo tiêu chuẩn quốc tế" để có thể báo cáo, đối sánh ở mức độ quốc gia; vừa phải đáp ứng mục tiêu giảm phát thải ròng về không "mà không gia tăng chi phí cho doanh nghiệp, cũng như không tạo thêm áp lực cho nền kinh tế".
Thứ trưởng Hoàng Minh cho rằng đó là thách thức lớn không chỉ đối với Ban Chủ nhiệm chương trình KC.16, mà còn đối với các đơn vị thực thi và các đơn vị thụ hưởng. Quan điểm của Bộ KH&CN là nếu chương trình triển khai quá nhanh thì chưa chắc đã phù hợp với bối cảnh kinh tế-xã hội, nhưng nếu triển khai quá chậm thì cũng không đạt được mục tiêu Net Zero. Vì vậy, việc thực hiện các nhiệm vụ trong một chương trình vốn vừa rộng vừa đa lĩnh vực như thế thì sự chung tay thảo luận của tất cả các bên liên quan là cực kỳ cần thiết.
Hơn nữa, không giống như các chương trình khoa học từ trước tới nay mà một nhiệm vụ thường chỉ có một hoặc một vài đối tượng thụ hưởng, các chương trình có tầm vóc quốc gia như Net Zero đòi hỏi không chỉ giải quyết các vấn đề cụ thể - ví dụ, kiểm kê khí thải, hoặc thu giữ carbon - mà còn cần tạo ra một nền tảng cho phép tất cả doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có thể dễ dàng tiếp cận và thụ hưởng chúng. Nghĩa là chúng phải có chi phí phải chăng, dễ vận hành, không đòi hỏi chuyên môn của người dùng và tiết kiệm thời gian.
Điều này nhằm đáp ứng nhu cầu rất bức thiết của cả nền kinh tế. Chẳng hạn, ngay từ tháng sau, khoảng 2.160 cơ sở sản xuất lớn trong ngành công thương, giao thông vận tải, xây dựng, tài nguyên môi trường sẽ bắt buộc phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính để từ năm 2026, các đơn vị này sẽ phải bắt đầu giảm phát thải khí nhà kính và báo cáo tiến độ.
"Chúng tôi cần kiểm kê khí nhà kính nhưng đến nay vẫn chưa có bất kỳ một hướng dẫn cụ thể nào về vấn đề này. Chúng tôi cũng đang xem xét một số công nghệ giảm phát thải, nhưng không biết chúng sẽ được tích hợp báo cáo thế nào với cơ quan quản lý. Vẫn chưa có một hệ thống tính toán rõ ràng để doanh nghiệp sử dụng", một đại diện trong ngành xi măng nói với Khoa học & Phát triển tại lễ công bố.
Nói về kiểm kê khí nhà kính, Việt Nam đã bắt đầu làm sôi nổi từ vài năm nay, nhưng thiếu các đơn vị kiểm kê khí nhà kính được quốc tế công nhận. Đứng trước bài toán này, TS. Lê Ngọc Cầu, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu, Bộ Tài nguyên và Môi trường, nói rằng họ muốn đề xuất một nhiệm vụ trong chương trình KC.16 để phát triển các công cụ hiệu quả nhằm kiểm kê khí nhà kính và định giá tín chỉ carbon một cách hợp lý và theo tiêu chuẩn quốc tế. Theo ông, trong bài toán kiểm kê, vận hành và định giá tín chỉ carbon, việc làm sao để Việt Nam tham gia vào sân chơi chung mà không bị thiệt là rất quan trọng.
Vốn dĩ, các công cụ như vậy sẽ do các bộ, ngành tự phát triển và đã có kế hoạch từ lâu. Nhưng đội ngũ nghiên cứu trong các bộ, ngành còn khá khiêm tốn và các nghiên cứu chỉ có thể kết nối với một số ít nhà khoa học ngành dọc với một ngân sách hạn chế. Việc xuất hiện một chương trình quốc gia nhắm mục tiêu Net Zero như KC.16 mở ra một cơ hội hoàn toàn mới. "Thông qua chương trình, chúng tôi có thể kết nối với lực lượng khoa học trên cả nước và nước ngoài với một ngân sách rộng rãi hơn", TS. Khuất Việt Hùng, Viện trưởng Viện Chiến lược Giao thông Vận tải, giải thích.
Ông Khuất Việt Hùng nói rằng ngành giao thông vận tải đang có rất nhiều bài toán lớn, không chỉ cụ thể như chuyển đổi năng lượng cho các phương tiện giao thông sang giao thông công cộng và ít phát thải hơn hay điện khí hóa đường sắt, mà còn cả những bài toán mang tính quản lý và thuyết phục mọi người về giá trị của việc chuyển đổi đó - ví dụ như tính toán tình trạng phát thải khi có và không có đường sắt đô thị. Ông đang có kế hoạch đề xuất ít nhất hai nhiệm vụ trong chương trình KC.16, một trong số đó liên quan tới việc thiết lập một mô hình giao thông quốc gia có khả năng chuyển giao cho địa phương để hằng năm có thể tính toán chính xác việc giảm phát thải khí nhà kính trong lĩnh vực giao thông.
Không chỉ các nhà quản lý quan tâm đến việc triển khai các nghiên cứu mới nhắm mục tiêu Net Zero để tạo ra công cụ quản lý cho mình, các doanh nghiệp cũng nhắm đến việc tham gia vào các nhiệm vụ này để có được các công nghệ giúp nâng cao lợi thế cạnh tranh. KTS Trần Thành Vũ - nhà sáng lập Edeec, đơn vị chuyên thiết kế năng lượng công trình, nói rằng họ muốn đẩy mạnh sự xuất hiện của các công trình Net Zero để đảm bảo năng lượng tiêu thụ và phát thải của các tòa nhà, cơ sở sản xuất được cân bằng.
Trích dẫn bối cảnh hồi năm 2023, khi ngành dệt may Việt Nam sụt giảm xuất khẩu vì các thị trường truyền thống như Mỹ và châu Âu siết chặt tiêu chuẩn xanh, trong khi hơn 200 nhà máy dệt may ở Bangladesh đồng loạt đạt được công nhận công trình xanh và giành được các đơn hàng mới, ông Trần Thanh Vũ tin rằng các công trình Net Zero có thể giúp ích cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam lấy lại những gì đã mất. Cũng như các đại biểu kể trên, ông cũng có ý định đề xuất một nhiệm vụ cho chương trình KC.16.
Thu hút giới khoa học
Các nhà quản lý của Bộ KH&CN kỳ vọng rằng chương trình khoa học công nghệ Net Zero này sẽ thu hút được những người xuất sắc nhất trong khối hàn lâm. Thông thường, mỗi chương trình KC sẽ có ít nhấtmột đến hai lần kêu gọi đề xuấttrong năm, nhưng chương trình KC.16 được cho là sẽ có khả năng mở rộng hơn trong tương lai.
Trong suốt quá trình lấy ý kiến để hình thành nên chương trình KC.16, một loạt các đại học, viện nghiên cứu hàng đầu như Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ VN, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP.HCM, v.v đã bày tỏ sẵn sàng tham gia vào các nội dung hợp phần. Họ đã nêu hàng chục hướng tiếp cận bài toán và công nghệ khác nhau, mặc dù phải đến 10/1 sắp tới, Bộ KH&CN mới có thể chắc chắn được những đề xuất chính xác.
Bộ KH&CN cũng có kế hoạch tổ chức các hội thảo giới thiệu về chương trình KH&CN Net Zero ở khắp ba miền nhằm thu hút các nhóm nghiên cứu mới.
![]() |
8 nội dung nghiên cứu của chương trình KH&CN Net Zero. |
Về mặt quản lý, Chương trình KC.16 vẫn đang tuân theo các quy trình quản lý chung của những văn bản hiện hành. Tuy nhiên, Thứ trưởng Hoàng Minh hé lộ rằng ông mong muốn các đơn vị tham gia có thể đề xuất một mô hình mở rộng trong quản lý và điều phối chương trình đặc biệt này, để chúng trở thành "một hình mẫu" trong việc quản lý các chương trình hướng tới mục tiêu chung quốc gia.
Theo ông, chương trình KH&CN Net Zero có thể là thí nghiệm đầu tiên. Trong tương lai, các nhà lãnh đạo có thể cân nhắc tới việc mở ra các chương trình khoa học và công nghệ xoay quanh một mục tiêu cụ thể - ví dụ như xây dựng tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc-Nam - mà thông qua đó đồng thời hình thành những ngành công nghiệp liên quan. "Bởi vậy, cách thức quản lý cũng cần có sự điều chỉnh sao cho phù hợp với cách tiếp cận của những chương trình lớn này", Thứ trưởng Hoàng Minh nhận xét.
Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, mặc dù chương trình KH&CN Net Zero có mục tiêu tham vọng và quy mô liên ngành cao nhưng vẫn đang vấp phải những ràng buộc khiến các nhà khoa học chưa thực sự được cởi trói. Trong lễ công bố, ông Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Văn phòng Các chương trình trọng điểm cấp nhà nước, đơn vị chịu trách nhiệm quản lý về tài chính cho tất cả các chương trình KC, vẫn thận trọng khuyến khích các nhà khoa học "cố gắng dấn thân". Ông hứa hẹn rằng Bộ KH&CN đang tham mưu sửa Luật KH&CN (dự kiến sẽ thông qua vào tháng 10/2025) theo hướng thông thoáng hơn cho việc nghiên cứu, nhưng nhấn mạnh rằng các quy định hiện hành vẫn có "một số cơ chế để chấp nhận rủi ro" để các nhà khoa học yên tâm hơn.
Nhiều người cho rằng, các hợp phần của chương trình KH&CN Net Zero vẫn chưa thu hút được sự tham gia mạnh mẽ của khối công nghiệp: danh sách những người trong Ban chủ nhiệm chủ yếu là nhà nghiên cứu và cơ quan chính phủ, có rất ít đại diện ngành công nghiệp khác nhau mà theo lý sẽ được hưởng lợi từ chương trình mới này.
Về nguyên tắc, Ban chủ nhiệm đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng chương trình và lèo lái chúng tới các mục tiêu đề ra. Ở đây, Net Zero là một mục tiêu quốc gia bao trùm lên nhiều lĩnh vực, sự ảnh hưởng của nó có thể tác động tới đa số các doanh nghiệp lớn trong nước, chưa kể các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Dĩ nhiên, có thể kỳ vọng rằng các doanh nghiệp sẽ có động lực tham gia nhiều hơn trong từng nhiệm vụ của tám nội dung hợp phần, hoặc sẽ được nhận chuyển giao công nghệ sau khi nhiệm vụ kết thúc. Tuy nhiên, kinh nghiệm từ các chương trình đổi mới sáng tạo trên khắp thế giới cho thấy, nên để tất cả các bên liên quan can dự sớm nhất có thể để có thể tạo điều kiện cho sự hợp tác liền mạch giữa các công ty, nhà nghiên cứu, cộng đồng và cơ quan chính phủ.
Bài đăng KH&PT số 1323 (số 51/2024)
Quang Duy

