Bốn mươi năm sau Đổi mới, Việt Nam đang đứng trước một ngưỡng cửa phát triển mới với kỳ vọng tăng trưởng hai con số và thoát bẫy thu nhập trung bình. Trong cuộc trò chuyện với Tia Sáng, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, nguyên Phó chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, thành viên tổ tư vấn Thủ tướng Chính phủ – người trực tiếp chứng kiến nhiều bước ngoặt cải cách – nhìn lại những bài học cốt lõi đã làm nên thành công của Đổi mới và vẫn còn nguyên giá trị cho hiện tại.
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan. Ảnh: Hoàng Giang.
Bảy năm "phá rào" tư duy
PV: Nhìn lại hành trình Đổi mới của đất nước từ bốn mươi năm trước, điều gì theo bà là chuyển đổi đầu tiên mang ý nghĩa quyết định, kích hoạt những thay đổi tiếp theo để dẫn tới thành công của Đổi mới?
Con đường Đổi mới đã thay đổi cơ chế, chính sách kinh tế Việt Nam trên ba phương diện lớn. Từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường, từ nền kinh tế chỉ có Nhà nước và hợp tác xã sang nền kinh tế nhiều thành phần, và mở cửa đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Cả ba bước ngoặt lớn đó cùng đến từ một sự chuyển đổi đầu tiên mang ý nghĩa mấu chốt.
Đó chính là chuyển đổi trong tư duy của những người lãnh đạo đất nước. Thay vì níu giữ một cơ chế khép kín, duy trì tối đa quyền định đoạt của Nhà nước đối với nền kinh tế, họ đã đặt niềm tin vào một cơ chế mở, phát huy sức mạnh tự chủ của nhân dân.
Thủ tướng Võ Văn Kiệt trong ngày hoàn thành đường dây tải điện 500 KV Bắc-Nam (tháng 5/1994).
Trước kia, mô hình quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung cấm chợ ngăn sông nặng nề, không cho phép đưa hàng ra khỏi biên giới tỉnh, thậm chí cấp huyện cũng quản lý hàng hóa không được đi ra khỏi huyện. Đến đâu cũng có rào chắn của những người quản lý thị trường hoặc các lực lượng khác của chính quyền để kiểm soát. Hệ thống kiểm soát đó làm cho nơi sản xuất được thì không bán được hàng, còn người tiêu dùng lại không có hàng mà mua. Nhà nước chủ trương mậu dịch quốc doanh tràn lan, và rất tự hào cung cấp cho người dân từ cây kim, sợi chỉ. Từ mớ rau muống, người dân cũng đến cửa hàng quốc doanh xếp hàng mua.
Niềm tin vào hệ thống quan liêu bao cấp như vậy đến từ ý thức hệ, được gửi gắm niềm tin từ những người lãnh đạo đi theo cách mạng nhiệt tình và vô tư. Bên cạnh đó cũng có những người bám giữ lấy cơ chế xin cho để bảo vệ cho lợi ích của riêng mình và cơ quan mình.
Nhưng cuối cùng, họ đều thấy rằng con đường đó không còn phù hợp. Đây là thay đổi quan trọng nhất, khởi đầu cho những thay đổi khác dẫn tới thành công của Đổi mới.
- Người ta thường nói về Đổi mới gắn với Đại hội VI năm 1986. Nhưng tư duy của Đổi mới có lẽ không thể hình thành trong ngày một, ngày hai?
Có thể nói Đại hội VI năm 1986 là cột mốc khởi đầu của Đổi mới trên phạm vi cả nước và là kết quả của một quá trình dài đổi mới từ dưới lên. Chúng ta trước hết cần nhớ đến mô hình khoán hộ của ông Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc đã giúp cho nông dân tỉnh Vĩnh Phúc vượt lên khó khăn trong thập kỷ 60. Tuy nhiên mô hình đó đã không được công nhận và hoan nghênh, về sau mới được áp dụng "chui" lẻ tẻ.
Theo các nhà kinh tế lâu năm, thời điểm thực sự bắt đầu của Đổi mới ở cấp trung ương là từ tháng 7 năm 1979, với Nghị quyết 6 của Hội nghị trung ương V. Ngay sau đó một tháng, Long An thực hiện chủ trương quyết đoán của ông bí thư Chín Cần, bắt đầu thí điểm bán hàng được phân phối ra thị trường, chuyển chế độ tem phiếu thành lương, điều chỉnh theo giá, khiến thay đổi hoàn toàn cuộc sống người dân, trở thành câu chuyện khuyến khích các nơi thay đổi.
An Giang cũng vậy, từ đầu thập kỷ 80 đã bứt ra khỏi mô hình nông nghiệp theo cơ chế cũ, khuyến khích người nông dân bán sản phẩm của mình ra thị trường với giá thỏa thuận với người mua ngoài phần bán theo nghĩa vụ cho Nhà nước.
Từng địa phương có sáng kiến, tập hợp lại rồi báo cáo lên lãnh đạo, để lãnh đạo nhìn ra. Trong công nghiệp, trước kia các xí nghiệp không có động lực vì chỉ được bán cho các đơn vị của Nhà nước với số lượng và giá cả đầu vào, đầu ra căn cứ theo các chỉ tiêu pháp lệnh, hoàn toàn không có thương lượng, mặc cả. Công suất các nhà máy chỉ đạt 50-60%. Sau này ngoài phần kế hoạch được giao họ được thực hiện kế hoạch 2, kế hoạch 3, tự chủ động tìm đầu vào mới, đầu ra mới, công suất tăng dần lên 70-80%, thậm chí 90%, giúp thị trường có thêm hàng hóa, giảm bớt khó khăn.
Cứ như vậy tư duy Đổi mới và hành động "phá rào" lan tỏa ra các ngành, các vùng. Từ bài học thực tế trở thành chủ trương chung của Đổi mới năm 1986 và được áp dụng rộng rãi. Nếu tính từ 1979, thì là bảy năm trời trên thực tế và áp dụng ở các mảng khác nhau. Tôi nghĩ đó cũng là cái hay của chúng ta: Thực sự tin ở cấp cơ sở, dựa vào dân, được sự hưởng ứng của người dân, từ đó lãnh đạo quyết định thay đổi cho phù hợp với nhu cầu của xã hội và người dân.
Cái duy nhất mình nắm trong tay là cơ chế
- Từ một nước thiếu đói phải xin viện trợ lương thực, chỉ sau ít năm Việt Nam nhanh chóng trở thành nước xuất khẩu gạo. Đổi mới đã giải phóng năng lực sản xuất của nền kinh tế, đồng thời mở ra cánh cửa giao thương với thế giới?
Cánh cửa giao thương với thị trường quốc tế có ý nghĩa rất lớn, cho phép chúng ta ngoài tự lực, tự cung tự cấp thì có thể xuất khẩu để mang về ngoại tệ và tiếp cận các nguồn lực bên ngoài để đáp ứng nhu cầu phát triển. Việt Nam ý thức được điều này và cũng đã tiếp nhận những tín hiệu bày tỏ sự quan tâm từ thị trường quốc tế từ rất sớm.
Ngay từ khi chiến tranh chưa kết thúc, trong hoàn cảnh bom đạn, các doanh nhân Nhật Bản và vài nước phương Tây khác vẫn tìm đến giao dịch buôn bán. Tôi còn nhớ tại tòa nhà cũ của VCCI ở 33 Bà Triệu, khi có báo động máy bay ném bom thì chủ và khách cùng chạy xuống hầm tiếp tục bàn chuyện. Kể cả đi địa phương, rủi ro chiến tranh nhiều nhưng họ vẫn đi.
Từ phải qua, hai nhà lãnh đạo Nguyễn Văn Linh và Trường Chinh trò chuyện với các thành viên trong ban soạn thảo Văn kiện Đại hội VI. Ảnh: TTXVN
30/4/1975 chiến tranh kết thúc, thì đến tháng 9 Bank of America cử Phó Chủ tịch ở Hồng Kông đến tìm hiểu, thăm dò thị trường. Ba năm liền từ 1976 đến 1978, mỗi năm có một đoàn Phòng Thương mại Mỹ (AmCham) ở Hồng Kông sang Việt Nam với nhiều doanh nhân thuộc các ngành dầu khí, hóa chất, thiết bị công nghiệp cùng các lĩnh vực khác. Các công ty lớn của Nhật Bản và Hàn Quốc, các Phòng Thương mại ASEAN và một số nước Tây Âu, Bắc Âu cũng sớm đến tìm kiếm các cơ hội thương mại. Trong lĩnh vực nhạy cảm như dầu khí, ngoài quan hệ đối tác với Nga, Việt Nam đã sớm chủ động liên hệ mời các tập đoàn của Mỹ, Pháp, Anh, Ý... vào liên kết khai thác.
Tất cả những tín hiệu đó khẳng định tiềm năng lớn trong hợp tác kinh tế của Việt Nam với các nước. Tuy nhiên, trước khi có Đổi mới, cánh cửa giao thương vẫn chưa thể thực sự mở ra. Chiến tranh Lạnh tiếp diễn trên thế giới, đất nước ta khi đó bị Mỹ cấm vận, bị cô lập, trong khi kinh tế Liên Xô cũ và các quốc gia xã hội chủ nghĩa Đông Âu mà chúng ta dựa vào họ đã ngày càng khó khăn. Trung Quốc thì bắt tay Mỹ từ năm 1972 và gây chiến tranh biên giới với ta đầu năm 1979. Việc khắc phục hậu quả kinh khủng của 30 năm chiến tranh càng trở nên khó khăn, bế tắc hơn đối với ta, khi mà kinh tế bên trong thì kiệt quệ, bên ngoài thì chỉ có nước duy nhất là Thụy Điển tiếp tục cấp viện trợ cho Việt Nam.
Bối cảnh quốc tế phức tạp đó là thực tế khách quan, không nằm trong tay mình. Cái duy nhất nằm trong tay mình là cơ chế.
Nhờ có Đổi mới, chúng ta mới thay đổi được cơ chế, đánh thức những tiềm năng nội lực và ngoại lực còn để ngỏ. Chỉ hai năm sau Đổi mới, năm 1988, Việt Nam đạt được hai con số ấn tượng tôi không thể nào quên. Con số thứ nhất là 1 triệu tấn gạo xuất khẩu, đưa chúng ta từ chỗ thiếu ăn trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ ba thế giới sau Thái Lan và Mỹ. Các nhà kinh tế nước ngoài gọi đó là câu chuyện "thành tựu sau một đêm". Con số thứ hai là 1 tỷ ngoại tệ đầu tiên trong một năm Việt Nam thu được từ xuất khẩu, gồm 700 triệu rúp và 300 triệu USD. 300 triệu USD đầu tiên hồi đó quý giá vô cùng, khẳng định rằng cơ hội khai thác cả nội lực và ngoại lực từ thị trường nước ngoài là rất lớn. Thành tựu đó càng quý hơn khi đầu năm 1990, Liên Xô và khối XHCN cũ sụp đổ, còn nước ta nhờ đã đổi mới nên không sụp đổ theo.
Nắm cái lớn, buông cái nhỏ
- Đổi mới thể chế mở ra cánh cửa tiếp nhận dòng chảy ngoại lực. Khi dòng chảy đó càng phát triển mạnh mẽ thì yêu cầu tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế được đặt ra ngày càng nhiều và khắt khe hơn. Việt Nam đã đáp ứng yêu cầu đó ra sao?
Tiến trình đổi mới, hoàn thiện thể chế gắn với chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế được chúng ta thực hiện với quyết tâm rất cao. Chỉ đúng một năm sau Đại hội VI, tháng 12/1987, Quốc hội ban hành Luật Khuyến khích Đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.
Trong quá trình xây dựng luật, các chuyên gia tư vấn luật quốc tế từ Úc và Anh vô cùng ngạc nhiên, bảo tôi rằng không thể ngờ một chính quyền cộng sản có thể cởi mở được như vậy. Cùng thời điểm, hầu hết các nước đang phát triển chỉ chấp nhận cho các nhà đầu tư nước ngoài sở hữu tỷ lệ vốn tối đa 49%, thì Việt Nam sẵn sàng cho nhà đầu tư nước ngoài sở hữu tới 70%, thậm chí có hình thức 100%, đồng thời cam kết ngay từ đầu rằng Nhà nước sẽ không quốc hữu hóa. Chúng ta cũng đồng thời đơn giản hóa thủ tục thương mại, bỏ dần cơ chế độc quyền ngoại thương kiểu cũ.
Một chính sách khác thể hiện sự mạnh dạn của Việt Nam, thậm chí đi trước cả Trung Quốc, khiến các nước vô cùng ấn tượng, đó là quyết liệt nới lỏng kiểm soát tỷ giá ngoại hối. Trước đây mỗi USD các doanh nghiệp xuất khẩu bán lại cho Nhà nước thu về chỉ bằng một phần mười so với thị trường bên ngoài. Từ năm 1993 chúng ta đưa giá ngoại tệ sát giá thị trường, trở thành cú hích cực mạnh cho các nhà sản xuất hàng xuất khẩu.
Hành trình gia nhập WTO đưa Việt Nam đến một cột mốc lớn, khi chúng ta chấp nhận "luật chơi" toàn cầu, những quy định, quy tắc mà tất cả các nước thành viên WTO, chiếm tới gần 90% thương mại toàn cầu áp dụng về thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ...
Nhờ thế, hệ thống pháp luật của Việt Nam được sửa đổi cơ bản. Trong khoảng một năm cuối cùng đàm phán tham gia WTO, Quốc hội ban hành mới và sửa đổi tổng cộng 25 luật - bao gồm những luật đóng vai trò nền tảng như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Thương mại, Luật Thuế... - trong khi trước đó trung bình hàng năm nước ta chỉ thông qua 5-6 luật.
Sau khi gia nhập WTO, chúng ta có nền tảng cơ bản để tiếp tục đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA), nâng cấp quan hệ kinh tế với các đối tác quan trọng, kể cả các FTA "thế hệ mới" với những cam kết rộng, sâu và cao hơn, như CPTPP, EVFTA...
Thể chế được cải cách mạnh mẽ đã tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước có môi trường kinh doanh tốt hơn, phát triển mạnh hơn trên nhiều lĩnh vực, các nguồn lực trong nước được khai thác đa dạng và hiệu quả hơn, để cùng ngoại lực tăng lên giúp nền kinh tế nước ta tăng trưởng liên tục ở mức khá cao trong suốt hơn 3 thập kỷ. Việt Nam được coi như một "ngôi sao đang lên" trong các nước đang phát triển khi vừa tăng trưởng kinh tế, vừa nhanh chóng xóa đói giảm nghèo.
- Bài học quan trọng nhất các nhà lãnh đạo có thể rút ra được từ tiến trình hoàn thiện thể chế này là gì thưa bà?
Về mặt vĩ mô, việc tham gia ngày càng sâu rộng vào sân chơi quốc tế giúp các nhà lãnh đạo thay đổi tư duy rất mạnh về vai trò của Nhà nước và quan hệ của Nhà nước với thị trường trong quản trị, điều hành kinh tế.
Nhà nước và các bộ, ngành cùng tỉnh ra một điều: Nhà nước cần nắm cái lớn, buông cái nhỏ. Nhà nước không quản trị mọi thứ mà cần tạo điều kiện cho thị trường vận hành.
Ông Kim Ngọc (người đội mũ ngồi bên trái), khi ấy là Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đến thăm ruộng lúa tại xã Lãng Công, huyện Sông Lô.
- Bài học về ‘nắm cái lớn, buông cái nhỏ, tạo điều kiện cho thị trường vận hành’ cũng được phản ánh sinh động qua quá trình khu vực kinh tế tư nhân đã được gỡ bỏ nhiều rào cản để phát triển ngày càng mạnh mẽ?
Các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam có xuất phát điểm là các tiểu thương, tiểu chủ, có vai trò hết sức quan trọng trong việc khơi thông dòng chảy hàng hóa ngay từ đầu Đổi mới. Sau Đổi mới, họ sinh sôi ngày càng mạnh, nhưng vẫn chịu nhiểu rào cản với hàng loạt giấy phép con, nhất cử nhất động đều phải xin phép Nhà nước.
Với Luật Doanh nghiệp ra đời năm 1999, nhiều rào cản kinh doanh quan trọng với doanh nghiệp tư nhân được gỡ bỏ. Họ được làm tất cả lĩnh vực mà luật pháp không cấm, thay cho nguyên tắc "chỉ được làm những gì Nhà nước cho phép" trước đó, kéo theo việc bãi bỏ hàng loạt giấy phép con.
Nhưng mặt khác, việc phân bổ các nguồn lực mà hầu hết do Nhà nước nắm vẫn ít được cải cách. Quyền tiếp cận nguồn lực cần thiết dành cho các doanh nghiệp tư nhân vẫn vô cùng hạn chế. Bao nhiêu ưu đãi rơi vào doanh nghiệp Nhà nước, rồi FDI, từ tiếp cận đất đai, tín dụng, thuế, nhân lực được đào tạo, công nghệ, thông tin, đến các cơ hội thị trường..., doanh nghiệp tư nhân vẫn than họ chỉ "nhặt mảnh vụn" của chiếc bánh thị trường.
Trong bối cảnh như vậy, một trong những bước tiến lớn thể hiện tư duy "nắm lớn buông nhỏ" là giảm số lượng doanh nghiệp nhà nước từ 13.000 doanh nghiệp vào năm 1986 xuống còn dưới 671 vào năm 2025. Việc này giúp giải phóng nhiều nguồn lực mà các doanh nghiệp Nhà nước sử dụng không hiệu quả, như các cửa hàng, nhà xưởng, đất đai, quyền kinh doanh trong một số lĩnh vực như thương mại, dịch vụ dân sinh ... để chuyển cho khu vực tư nhân. Doanh nghiệp Nhà nước rút đến đâu, doanh nghiệp tư nhân mở ra đến đó khai phá cơ hội.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Trần Quỳnh và Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước Hoàng Đình Phu trong buổi lễ Khởi công xây dựng Trụ sở Cục Sáng chế vào năm 1987.
Khi lớn mạnh, tự họ tìm được thêm những mảng, ngách thị trường mà doanh nghiệp Nhà nước và FDI chưa động tới hoặc ít tham gia. Sau 40 năm, khu vực tư nhân từ chỗ được thừa nhận, phát triển bùng nổ từ năm 2000 và mở rộng dần, hiện đóng góp 51% GDP.
- Thời điểm mở ra cơ hội đó, nhiều doanh nghiệp tư nhân đã chọn đi vào lĩnh vực bất động sản...
Bởi khi ấy, thị trường không có gì khác cho họ. Khai thác khoáng sản thì chủ yếu doanh nghiệp Nhà nước hoặc công ty "sân sau" làm. Công nghiệp nặng then chốt, công nghiệp nhẹ có giá trị thương mại, hạ tầng cũng do khu vực Nhà nước nắm giữ. Các ngành công nghiệp lớn nhỏ, dịch vụ... thì FDI đều có lợi thế hơn rất nhiều so với doanh nghiệp nội, nhất là sau khi Việt Nam tham gia WTO. Nông nghiệp thì manh mún, khó có qui mô hiệu quả.
Cũng không thể trách họ vì sao không bắt đầu bằng công nghệ, bởi chúng ta chưa có nền tảng công nghệ ở những năm đầu thế kỷ XXI. Ngay với FDI, sau gần 4 thập kỷ, mức độ lan tỏa và chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp nội vẫn ở mức rất thấp.
Bản thân các doanh nghiệp tư nhân lớn sau khi tích lũy vốn ban đầu từ bất động sản cũng đã dịch chuyển sang công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, công nghệ. Giờ mới là thời cơ của công nghệ Việt Nam, khi nhiều quyết sách cùng Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ ra đời.
- Với thế và lực mới của các doanh nghiệp Việt, Nhà nước cần tiếp tục thúc đẩy và phát huy như thế nào?
Tôi mong Nhà nước để tư nhân tham gia mạnh vào những lĩnh vực Nhà nước đang làm và coi là trách nhiệm chính, ví dụ các dự án đầu tư công, hoàn thiện và phát triển mạnh cơ chế hợp tác công-tư PPP. Một động thái tôi thích nhất là năm 2025, khi xác định triển khai các dự án hạ tầng lớn, Thủ tướng đã gặp luôn các tập đoàn tư nhân, chào mời họ tham gia.
Trước đây, việc chọn đơn vị triển khai các dự án hạ tầng đều chỉ tính đến doanh nghiệp nhà nước hoặc nước ngoài, ít khi nghĩ đến doanh nghiệp tư nhân nội và các ngành công nghiệp liên quan. Trong khi đó, doanh nghiệp nước ngoài chọn mua thiết bị, vật tư từ bên ngoài, ngành sản xuất trong nước không được hưởng lợi gì nhiều. Thị trường hàng tỷ USD mỗi năm cho các phương tiện chạy trên đường như ôtô, xe máy, toa xe, cũng bị bỏ qua, ít quan tâm phát triển nội địa, nhường hết cơ hội cho nước ngoài. Đầu tư hay mua hàng nước ngoài thì lãi họ mang về nước họ, vốn đầu tư công đổ vào hạ tầng thì khó hoặc rất chậm thu hồi, trong khi nguồn lực tư nhân lại không coi trọng để khai thác. Nghịch lý đó kéo dài, thiệt cả cho khu vực tư nhân và nhân dân trong nước lẫn nhà nước.
Ngày 7/11/2006, Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển và Tổng Giám đốc WTO Pascal Lamy ký Nghị định thư về việc Việt Nam gia nhập WTO. Ảnh: TTXVN.
Dù với dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam, VinSpeed đã rút để tập trung nguồn lực vào các dự án khác, nhưng Thaco vẫn đang sẵn sàng. Hòa Phát đang đầu tư đường ray. Tổng công ty Đường sắt Việt Nam cũng tham gia làm đầu máy, toa xe. VNPT, Viettel, FPT có thể làm hệ thống thông tin điều khiển. Tôi kỳ vọng với dự án lớn này, phương án tốt nhất là doanh nghiệp Nhà nước hợp tác, liên danh với khối tư nhân trong nước. Trường hợp cần công nghệ, kỹ năng từ nước ngoài, có thể cân nhắc liên doanh với họ, nhưng nhất thiết phải có chuyển giao công nghệ và tỷ lệ của trong nước càng cao càng tốt.
- Việt Nam đã thu hút được doanh nghiệp công nghệ lớn như Intel từ năm 2006, sau đó là Samsung. Vì đâu chuyển giao công nghệ vẫn là câu chuyện "nói mãi" sau nhiều thập kỷ?
80% số doanh nghiệp FDI tại Việt Nam có 100% vốn nước ngoài. Chừng nào còn như vậy thì họ không quan tâm tới chuyển giao công nghệ, dù họ cam kết và được hưởng nhiều ưu đãi từ cam kết đó. Việc chúng ta mở tỷ lệ liên doanh tới 70% cho nước ngoài, một số trường hợp tới 100%, với Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 là chủ trương đúng đắn. Nhưng tỷ lệ này cần điều chỉnh dần, không thể neo mãi.
Tuy nhiên, bệnh thành tích đã khiến xuất khẩu cùng FDI thành động lực của tăng trưởng kinh tế nước ta trong nhiều năm qua. Trong khi đó, 75% giá trị xuất khẩu đến từ khối FDI với giá trị gia tăng ở nước ta rất thấp, tác động lan tỏa sang khu vực kinh tế nội địa rất hạn hẹp. Thành quả xuất khẩu và đầu tư họ hưởng là chính, lời lãi họ mang về, nên việc chúng ta coi đó là thành tích của mình thì có thể nói phần nào là "nhận vơ".
Trong bối cảnh chúng ta đang thúc đẩy thu hút nhiều ngành công nghệ, tôi lo nếu chỉ tận dụng thu hút đầu tư theo kiểu cũ, giá trị công nghệ của chính Việt Nam sẽ không được bao nhiêu. Nhưng với chiến lược mới về phát triển công nghiệp đường sắt, đó là cơ hội để chúng ta có một ngành công nghiệp với công nghệ và năng lực của chính mình.
Ngành công nghiệp ôtô cũng cần xem lại. Vinfast đã có bước đột phá phát triển ngành ô tô Việt Nam đi cùng hơn 700 doanh nghiệp Việt phụ trợ. Thaco đã và đang tăng mạnh năng lực các mặt. Ta không thể kéo dài tình trạng đầu tư nước ngoài chỉ lắp ráp tại Việt Nam và nhập khẩu đầu vào từ bên ngoài hoặc mua từ FDI khác.
Theo báo cáo 500 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam (VPE500) do Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) công bố năm 2023, nhóm doanh nghiệp tư nhân thúc đẩy đầu tư trong nước lớn nhất so với hai thành phần doanh nghiệp FDI và Nhà nước. Mỗi 1% vốn đầu tư tăng thêm của họ làm tăng đầu tư tư nhân trong nước thêm 0,45% trong năm đầu tiên, 0,26% năm tiếp theo.
Trong khi đó, đầu tư FDI chèn lấn đầu tư trong nước, mỗi 1% vốn tăng thêm làm giảm 0,32% vốn tư nhân trong nước trong năm đầu, chủ yếu ở doanh nghiệp cùng ngành. Đầu tư công có tác động lan tỏa, thu hút đầu tư tư nhân, nhưng tác động bằng một phần ba đầu tư tư nhân và chỉ có hiệu lực cao trong năm đầu tiên.
Hãy tin vào nội lực!
- Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030, trở thành nước thu nhập trung bình cao với thu nhập bình quân đầu người 8.500 USD vào năm 2030. Bà thấy đâu là động lực chủ chốt cho mức tăng trưởng này?
Nếu đổi mới mạnh mẽ về thể chế được thực thi tốt, lực lượng doanh nghiệp trong nước, tiên phong là các doanh nghiệp tư nhân có thể đưa Việt Nam đạt mục tiêu. Bởi công nghệ ngày nay cho phép bước tăng trưởng nhảy vọt ở nhiều nước. Các chính sách cụ thể cần mở để từng con người, từng doanh nghiệp chủ động sáng tạo, để họ tự làm, tự chịu trách nhiệm và tăng liên kết với nhau cũng như với các đối tác liên quan trong công nghệ, giáo dục đào tạo... Đồng thời, pháp luật cần tạo lập khuôn khổ thông thoáng, minh bạch, đồng bộ, nhất quán để doanh nghiệp hoạt động, chấp nhận những sáng kiến mới, chấp nhận rằng không phải lĩnh vực nào Nhà nước cũng giỏi hơn.
Với quyết tâm cải cách thể chế như hiện nay, tôi hy vọng bộ máy Nhà nước sẽ thu hút được những người giỏi, thực sự có năng lực chuyên môn và đạo đức công chức, có lòng yêu nước và ý thức phục vụ nhân dân, làm việc có hiệu quả. Điều này cần được thực hiện ở mọi cấp chính quyền, kể cả các cấp xã, phường gần dân nhất. Sức ép rất nhiều. Nhưng bộ máy Nhà nước sống bằng ngân sách, tức tiền thuế của dân, không thể để dân phải nuôi những người không làm được việc, lại còn tham nhũng, gây khó cho dân.
Rất cần các quy định luật pháp minh bạch, nghiêm ngặt để kiểm soát quyền lực và yêu cầu thực hiện trách nhiệm xã hội đối với cả hai phía nhà nước và doanh nghiệp, đặc biệt các doanh nghiệp lớn, trong các hoạt động kinh tế. Cần có hệ thống giám sát, yêu cầu trách nhiệm giải trình với sự tham gia và vai trò thật sự của dân, các tổ chức xã hội, báo chí... chứ không chỉ của nhà nước. Kết quả giám sát phải được công khai.
Có được thể chế công bằng và minh bạch, tôi tin rằng các doanh nghiệp, nhất là khối tư nhân, sẽ mau chóng trưởng thành, làm được nhiều thứ hơn. Các đại gia Việt đang chứng minh năng lực bằng các công trình, dự án lớn, trong đó có nhiều cái họ thực sự dẫn đầu, vượt trội với chất lượng và hiệu quả cao. Bên cạnh đó, có hàng nghìn doanh nghiệp quy mô khá lớn, vừa và nhỏ cũng rất thành công, đóng góp nhiều về việc làm, thu nhập, sản phẩm, công nghệ, thị trường. Trong những yếu tố giúp các doanh nghiệp này thành công, ngoài khát vọng, ý chí và tài năng của những vị chủ doanh nghiệp, còn có sự góp sức của rất nhiều doanh nhân giỏi, nhiều tài năng trong các lĩnh vực quản trị, công nghệ, kỹ năng chuyên môn, sức sáng tạo, khả năng học hỏi và cải tiến không ngừng.
Đặc biệt, Việt Nam còn có hàng vạn nhà công nghệ, nhà kinh doanh trẻ sinh sống hoặc làm việc cả ở trong nước lẫn nước ngoài. Họ là những người giỏi trong sáng tạo hoặc ứng dụng công nghệ, xây dựng mạng lưới làm việc và tạo lập thị trường với nhiều mô hình sáng tạo, cạnh tranh được cả ở các nền kinh tế tiên tiến nhất. Đừng nhìn người Việt ở nước ngoài chỉ như những người có thể góp vốn về đầu tư trong nước. Vốn tri thức, trí tuệ, tài năng của họ là nguồn lực lớn và quý hơn nhiều, không đo đếm được. Phần lớn họ đều có lòng yêu nước, mong muốn và sẵn sàng đóng góp cho quê hương, cho đồng bào, cho một Việt Nam thịnh vượng.
Tin doanh nghiệp tư nhân đi. Họ đã và sẽ làm được. Cùng các khối doanh nghiệp khác, cùng lực lượng người Việt ở nước ngoài, họ sẽ là nền tảng để Việt Nam tăng trưởng hai con số trong tương lai.
- Qua 40 năm, Việt Nam đã thành công trong quá trình chuyển đổi tư duy, cải tổ thể chế và khơi thông các dòng chảy nội lực, ngoại lực. Trong đó sức mạnh nội lực ngày càng được củng cố và phát huy. Bước vào giai đoạn tới, điều gì giúp chúng ta tiếp nối thành công này?
Đó là tinh thần yêu nước, vì dân, tin và dựa vào sức mạnh của nhân dân. Tinh thần đó vẫn cần là động lực xuyên suốt ở các cấp lãnh đạo và công chức khác nhau trong giai đoạn hiện nay. Trên tinh thần đó, họ có thể chấp nhận nhiều yêu cầu, nhiệm vụ và chuẩn mực mới, kể cả quyền lực của mình thu hẹp ở mức độ nhất định để quyền của dân, của những người kinh doanh được rộng hơn, hoặc quyền của cấp trên bớt đi, để quyền cấp dưới nhiều hơn, để họ có không gian làm được việc.
Với tinh thần này, tiêu chí "có lợi cho nước, cho dân" sẽ là số một. Từ đó, chúng ta có thể soi chiếu hệ thống quản trị Nhà nước cần thế nào, quan hệ trên - dưới ra sao. Thực tế, những người đứng đầu đất nước đang quyết tâm chuyển mạnh theo hướng Nhà nước kiến tạo, chính quyền các cấp dưới cần thực thi đúng để đưa hướng kiến tạo vào thực tế vận hành, mở đường cho sức mạnh Việt Nam bật lên trong kỷ nguyên mới.
Xin trân trọng cảm ơn bà!
Thủy Trương thực hiện