Trong hơn hai chục năm qua, giáo dục đại học Việt Nam mở rộng rất nhanh, với số sinh viên tốt nghiệp tăng mạnh, góp phần nâng cao mặt bằng học vấn của lao động. Nhưng cũng có một vấn đề đặt ra là thị trường lao động vẫn dựa nhiều vào các ngành thâm dụng lao động và giá trị gia tăng thấp, có hấp thụ nguồn cung nhân lực trình độ cao hay không?
Một nghiên cứu mới đây* của nhóm chúng tôi tại Đại học Quốc gia Hà Nội, dựa trên dữ liệu Khảo sát Lao động - Việc làm quốc gia giai đoạn 2018–2022 cho thấy câu trả lời không mấy lạc quan: khoảng một phần ba cử nhân dưới 31 tuổi đang làm những công việc không cần trình độ đại học. Nếu quy đổi theo quy mô thị trường lao động, con số này tương đương với hàng trăm nghìn, thậm chí gần một triệu cử nhân trẻ đang làm công việc không cần đến bằng đại học. Hiện tượng này trong kinh tế học gọi là đào tạo thừa (overeducation), để nói về trình độ học vấn của người lao động chênh hơn so với yêu cầu công việc, kéo theo tổn thất tiền lương và những hệ quả dài hạn đối với quỹ đạo nghề nghiệp của người lao động.
Điều này phản ánh sự "lệch pha" giữa hệ thống giáo dục và cấu trúc việc làm trong nền kinh tế, khi thị trường lao động chưa có khả năng hấp thụ nguồn nhân lực đại học đã được đào tạo ra. Đáng chú ý, nghịch lý này diễn ra trong bối cảnh tỷ lệ lao động có trình độ đại học ở Việt Nam vẫn còn thấp so với các nước thu nhập trung bình cao (14,3% so với 47,4% ở OECD). Điều đó cho thấy vấn đề không đơn thuần là đào tạo nhiều, mà là đào tạo chưa phù hợp với cấu trúc nhu cầu của nền kinh tế.
Sinh viên tìm hiểu cơ hội việc làm tại một ngày hội việc làm. Ảnh: Dương Tâm/ VNE
Nhóm ngành nông nghiệp KHCN, KHXH đào tạo thừa nhiều
Hiện tượng "đào tạo thừa" ở cử nhân trẻ có xu hướng tăng lên (từ khoảng 31% năm 2018 lên hơn 41% năm 2022). Sự gia tăng này diễn ra trong bối cảnh thị trường lao động Việt Nam chịu tác động kép: một mặt là quá trình đại trà hóa giáo dục đại học, trong khi đó tốc độ tạo việc làm kỹ năng cao chưa theo kịp.
Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy, tình trạng "đào tạo thừa" không phân bố đồng đều mà tập trung ở những ngành đào tạo và khu vực việc làm cụ thể. Trong đó, đáng chú ý là, các ngành như giáo dục, y tế, quốc phòng an ninh có tỷ lệ đào tạo thừa thấp, còn ngược lại các ngành nông nghiệp, khoa học - công nghệ, khoa học xã hội và các nhóm ngành "khác" có tỷ lệ thừa giáo dục rất cao. Lao động đang làm cho hộ gia đình/cá nhân có xác suất đào tạo thừa cao nhất; khu vực công có tỷ lệ thấp nhất.
Tổn thất tiền lương
Nếu đào tạo thừa nhưng không ảnh hưởng đến tiền lương, thì việc các em cử nhân trẻ làm trái trình độ không đến mức đáng lo ngại. Nhưng nếu đào tạo thừa ảnh hưởng tới tiền lương và tạo thành "cái bẫy" kéo dài khiến người lao động thu nhập thấp hơn và ít cơ hội học hỏi để nâng cao chuyên môn, từ đó ảnh hưởng lâu dài tới sự nghiệp, thì không thể xem nhẹ.
Nên chúng tôi tiếp tục sử dụng mô hình kinh tế lượng để đánh giá ảnh hưởng của việc làm trái trình độ tới tiền lương. Kết quả cho thấy: cử nhân bị đào tạo thừa chịu tổn thất tiền lương khoảng một phần ba mức lương, so với một người có học vấn và kinh nghiệm tương đương nhưng làm đúng trình độ.
Giả sử thu nhập trung bình của cử nhân trẻ là 10 triệu đồng, thì người làm việc dưới trình độ sẽ hụt mất khoảng 1/3 so với việc làm đúng trình độ, tương đương 3 triệu đồng mỗi tháng. Đây là mức thu nhập thấp hơn hẳn, có thể ảnh hưởng tới quỹ thu nhập cả đời của người lao động, vì mức thấp này lặp lại hàng tháng, hàng năm, và mặt bằng chung người lao động làm việc trái trình độ ít cơ hội học hỏi thêm đúng chuyên môn để nâng cao kỹ năng nghề. Trong nghiên cứu kinh tế, tác động từ tổn thất tiền lương này lên sự nghiệp và cuộc sống lâu dài của người lao động được gọi là sẹo nghề nghiệp (career scarring).
Tìm hiểu sâu hơn, tổn thất tiền lương và "sẹo nghề nghiệp" trong dài hạn ở từng nhóm cũng rất đáng chú ý, khi nữ chịu tổn thất nhiều hơn nam, lao động ở đô thị chịu tổn thất nhiều hơn nông thôn (nữ giới tổn thất khoảng 42%, cao gần gấp đôi so với nam giới - khoảng 24%; ở đô thị cao gần gấp đôi nông thôn - khoảng 40% so với nông thôn khoảng 22%).
Ở đô thị, nơi cạnh tranh việc làm kỹ năng cao gay gắt hơn, việc "lệch pha" giữa bằng cấp và công việc ảnh hưởng nặng hơn tới thu nhập.
Nhân viên một công ty ở TP HCM hướng dẫn cho người tìm việc làm trong ngày hội việc làm. Ảnh: Lê Tuyết/ VNE
Vì sao cử nhân bị "đào tạo thừa"?
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy xác suất đào tạo thừa chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố gồm: giới tính (nam có xác suất cao hơn nữ), ngành đào tạo (so với ngành giáo dục và y tế, hầu hết các ngành khác có rủi ro cao hơn), khu vực việc làm (làm trong khu vực công, doanh nghiệp chính thức giúp giảm mạnh xác suất đào tạo thừa). Cuối cùng là yếu tố gia đình và môi trường: Nếu người cha bị đào tạo thừa, xác suất con cái rơi vào tình trạng này tăng lên, và người lao động sống ở khu vực có tỷ lệ đào tạo thừa cũng làm tăng rủi ro cá nhân bị đào tạo thừa.
Điều này cho thấy đào tạo thừa không thuần túy là vấn đề lựa chọn cá nhân, mà có tính chất cấu trúc và liên thế hệ. Nó phản ánh sự phân mảnh của thị trường lao động và sự mất cân đối giữa hệ thống đào tạo và nhu cầu thực tế.
Nghiên cứu cũng đặt trong nhiều khung kinh tế lao động trên thế giới: về vốn nhân lực, khi kỹ năng tích lũy không được sử dụng đầy đủ, năng suất và tiền lương sẽ giảm; về phân bổ công việc, thu nhập phụ thuộc vào mức độ phù hợp giữa năng lực và yêu cầu vị trí; theo lý thuyết tín hiệu, nếu bằng cấp không được sử dụng đúng chỗ, giá trị của giáo dục suy yếu.
Trong bối cảnh Việt Nam đang là một nền kinh tế chuyển đổi với khác biệt vùng miền, khác biệt giữa lao động khu vực chính thức với phi chính thức và bất bình đẳng giới, thì các cơ chế này có thể khuếch đại lẫn nhau.
Hiện nay, các trường đang nỗ lực cải thiện chương trình đào tạo sát hơn với nhu cầu kỹ năng thực tế, tăng cường thực hành, kỹ năng chuyển đổi và kết nối doanh nghiệp - nhà trường. Tuy nhiên, nếu cải thiện ở giáo dục đại học nhưng thị trường lao động không hấp thụ hết, vẫn cứ lãng phí nguồn nhân lực đã được đào tạo, riêng với người lao động là "tổn thất tiền lương". Phát triển công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ tri thức và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo để tạo thêm việc làm phù hợp với lao động trình độ cao là điều kiện then chốt.
Chúng tôi cũng lưu ý rằng dữ liệu hiện tại chưa cho phép theo dõi quỹ đạo nghề nghiệp dài hạn của từng cá nhân, do đó các hệ quả dài hạn có thể còn chưa được phản ánh đầy đủ. Sẽ cần tiếp tục có các đánh giá dài hơi hơn trong tương lai để hiểu được tác động của đào tạo thừa tới người lao động và tới kinh tế - xã hội.
Nghịch lý của thị trường lao động
Theo công bố của Tổng cục thống kê năm 2025, Việt Nam có khoảng 1,6 triệu thanh niên "3 không" - không học, không làm, không tham gia đào tạo - tương đương 11-12% nhóm tuổi 15-24. Tỷ lệ này không cao bất thường so với thế giới. Nhưng nghịch lý nằm ở chỗ cùng lúc đó, một tỷ lệ lớn cử nhân trẻ lại đang làm công việc không cần bằng đại học.
Điều đó cho thấy sự lãng phí nguồn lực: thị trường lao động vừa có người bị loại khỏi thị trường, vừa có người ở trong thị trường nhưng không được sử dụng phù hợp với trình độ và kỹ năng.
---
Chú thích:
* Trần Quang Tuyến et al, Overeducation and wage penalties among young university graduates in Vietnam. International Journal of Educational Research, 2026.
Bài báo là sản phẩm của đề tài do Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia (NAFOSTED) tài trợ.