Tuần trước, tôi nghe chị Trần Ngọc Anh, một doanh nghiệp logistics kể chuẩn bị mở thêm chi nhánh nhưng trước tiên phải bỏ ra khoản 1 tỷ đồng để mua bản quyền phần mềm cho toàn bộ hệ thống máy tính. Đây không phải khoản đầu tư tạo thêm doanh thu, mà là chi phí để hoạt động đúng pháp luật.
Tuy nhiên, khi doanh nghiệp tìm đến ngân hàng để vay vốn, khoản vay không được chấp thuận vì "phải ưu tiên vốn cho những dự án lớn khác".
Với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, chi phí tuân thủ bản quyền không phải là nhỏ. Chỉ riêng tiền bản quyền Windows, một phòng máy internet với 50 máy tính phải chi khoảng 250 triệu đồng để cài phần mềm hợp pháp. Theo tính toán của ông Hoàng Minh Đạt, một chuyên gia công nghệ thông tin chuyên phát triển phần mềm cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, Việt Nam hiện có khoảng 12.000 phòng máy game và internet, với khoảng 600.000 máy tính đang hoạt động.
Tuy nhiên, chi phí bản quyền những phần mềm cơ bản như Windows từ trước đến nay gần như chưa bao giờ được tính vào giá thành dịch vụ. Đó là những tài sản tạo ra giá trị cho hoạt động kinh doanh, nhưng lại không dễ trở thành tài sản bảo đảm trước ngân hàng.
Khó tiếp cận vốn cho các khoản đầu tư thiết yếu cơ bản không phải là câu chuyện riêng của một vài doanh nghiệp. Nó đã trở thành một đặc điểm của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Khu vực tạo ra nhiều việc làm nhất lại là khu vực khó tiếp cận vốn nhất.
Theo Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam 2025, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm hơn 98% số doanh nghiệp, đóng góp khoảng 40-45% GDP và sử dụng hơn 60% lực lượng lao động, nhưng chỉ tiếp cận khoảng 20% tổng dư nợ tín dụng.
Điều đáng nói là vấn đề không nằm ở chỗ nền kinh tế thiếu tín dụng. Sáu tháng đầu năm 2026, dư nợ toàn hệ thống vẫn tăng thêm khoảng 1,4 triệu tỷ đồng, vượt mốc 20 triệu tỷ đồng. Tín dụng tăng nhanh hơn huy động vốn, nhưng trước thực trạng nhiều dự án quy mô lớn cùng cần nguồn vốn trung và dài hạn, dư địa dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trở nên chật hẹp.
Ảnh minh họa: Giang Huy
Giữa một bên là một khoản vay lớn dành cho khách hàng có tài sản, báo cáo tài chính đầy đủ và dòng tiền rõ ràng, bên kia là hàng trăm khoản vay nhỏ có chi phí thẩm định cao hơn, lựa chọn cho vay của ngân hàng thường nghiêng về phía doanh nghiệp lớn.
Đó cũng là giới hạn của chính hệ thống ngân hàng. Ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Vietcombank, cho biết các ngân hàng thương mại hiện đối mặt với năm sức ép lớn: phải bảo đảm đủ nguồn vốn cho vay; xử lý tình trạng mất cân đối giữa vốn huy động ngắn hạn và nhu cầu cho vay dài hạn; ứng phó với chi phí vốn ngày càng tăng; kiểm soát rủi ro tỷ giá và nguồn cung ngoại tệ; đồng thời giải quyết những vướng mắc liên quan đến tài sản bảo đảm, nhất là khi quy hoạch thay đổi làm ảnh hưởng đến giá trị tài sản thế chấp.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cũng chỉ ra nút thắt lớn nhất của hệ thống là cơ cấu nguồn vốn. Khoảng 80% tiền gửi hiện nay là ngắn hạn, trong khi nhu cầu vay của doanh nghiệp chủ yếu là trung và dài hạn. Vì vậy, các ngân hàng phải đồng thời thực hiện hai mục tiêu: cung ứng vốn cho tăng trưởng nhưng vẫn bảo đảm an toàn hệ thống.
Ông nói: "Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách lãi suất tương đối "vất vả" do nhu cầu vốn rất cao, trong lúc huy động vốn của nền kinh tế còn eo hẹp. Chúng ta tập trung vào tăng trưởng kinh tế, tập trung vào tín dụng, vì vậy khi thiếu hụt vốn thì đương nhiên lãi suất nâng cao. Mà lãi suất huy động đầu vào cao thì lãi suất đầu ra cao, như vậy trực tiếp ảnh hưởng đến doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
Nhìn từ phía doanh nghiệp nhỏ, họ không vay được tiền. Nhìn từ phía ngân hàng, họ cũng không có nhiều dư địa để mở rộng tín dụng như mong muốn. Cả hai cùng bị ràng buộc bởi một cấu trúc tài chính mà thị trường vốn không thể san sẻ gánh nặng với hệ thống ngân hàng.
Doanh nghiệp nhỏ vì thế thường là bên chịu tác động đầu tiên. Không vay được vốn, họ phải trì hoãn đầu tư, thu hẹp kế hoạch mở rộng hoặc chấp nhận những nguồn vốn đắt đỏ hơn. Với bà Trần Ngọc Anh, khoản tiền cần vay không phải để đầu tư vào một dự án rủi ro, mà chỉ để mua phần mềm có bản quyền, đáp ứng yêu cầu tuân thủ pháp luật trước khi mở rộng hoạt động.
Sức sống và sức đào thải
Điều đó dẫn tới kết quả gì? Khảo sát PCI 2025 của VCCI cho thấy 21% doanh nghiệp coi tiếp cận tài chính là trở ngại lớn nhất trong hoạt động kinh doanh. 8,2% không tiếp cận được nguồn vốn hoặc từ bỏ ý định vay ngay từ đầu, trong khi 18% chỉ được đáp ứng một phần nhu cầu vốn.
Trong đó, rào cản lớn nhất vẫn là tài sản bảo đảm. Khoảng 75% doanh nghiệp cho biết ngân hàng yêu cầu tài sản thế chấp. Trên thực tế, 93,5% các khoản vay đều đi kèm tài sản bảo đảm.
Trong sáu tháng đầu năm 2026, cả nước có 169.800 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 11,2% so với cùng kỳ. Khảo sát của Tổng cục Thống kê cũng cho thấy 36,3% doanh nghiệp chế biến, chế tạo đánh giá tình hình kinh doanh quý II khả quan hơn quý trước, và 39,4% kỳ vọng quý III tiếp tục cải thiện.
Nhưng ở chiều ngược lại, 151.100 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng tới 18,8%, tương đương gần 25.200 doanh nghiệp mỗi tháng.
Theo đó, tốc độ doanh nghiệp rút lui đang tăng nhanh hơn tốc độ doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại. Việt Nam không thiếu tinh thần kinh doanh, nhưng sức chống chịu của doanh nghiệp đang bị thử thách mạnh.
Khi dòng tiền yếu đi, chi phí tuân thủ tăng lên và khả năng vay vốn bị hạn chế, một cú sốc tưởng như nhỏ cũng có thể trở thành giọt nước làm tràn ly. Doanh nghiệp gia nhập thị trường bằng kỳ vọng, nhưng có thể phải rời đi vì không đủ sức vượt qua quãng thời gian tích lũy ban đầu.
Vốn, vì thế, không chỉ là tiền để mua máy móc hay mở nhà xưởng. Đối với nhiều doanh nghiệp, đó còn là nguồn lực để tồn tại đủ lâu, tuân thủ đủ tốt và bước qua giai đoạn chuyển đổi của nền kinh tế.
Theo Phó trưởng ban pháp chế VCCI Phạm Ngọc Thạch, tính đến giữa năm 2026, Việt Nam có 1.062.179 doanh nghiệp đang hoạt động, với tổng tài sản khoảng 59,9 triệu tỷ đồng. Quy mô này cho thấy khu vực doanh nghiệp đã mở rộng đáng kể.
Tuy nhiên, sức khỏe bên trong chưa thực sự vững chắc. Trong số đó có khoảng 420 nghìn doanh nghiệp báo lãi, 432 nghìn doanh nghiệp báo lỗ và khoảng 129 nghìn doanh nghiệp hòa vốn. Như vậy, gần một nửa số doanh nghiệp chưa tạo được lợi nhuận.
Khi phần lớn doanh nghiệp hoạt động với biên lợi nhuận thấp, thua lỗ hoặc chỉ hòa vốn, khả năng tích lũy, đổi mới công nghệ và mở rộng đầu tư sẽ bị hạn chế đi nhiều.