Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ khi kết thúc cuộc chiến chống phong tỏa mà Mỹ thả thủy lôi cảng Hải Phòng và ven biển nước ta hòng chặn con đường tiếp nhận sự viện trợ từ bạn bè quốc tế cũng như ngăn chặn hậu phương miền Bắc tiếp vận cho tiền tuyến miền Nam.
Cuộc phong tỏa đã trực tiếp đánh vào luồng lạch đường biển, các đội tàu, bến cảng của miền Bắc vừa được xây dựng sau ngày hòa bình 1954. Là một tổ hợp kinh tế chuyên ngành vận tải, Cục Đường biển (Bộ Giao thông Vận tải) bắt buộc phải tham gia cuộc chiến chống phong tỏa dưới sự dẫn dắt của Hải quân Nhân dân Việt Nam và họ đã trở thành các chiến sĩ rà phá thủy lôi thuần thục để mở luồng cho các con tàu.
Vì phạm vi cuộc chiến khá rộng, các chiến dịch vận tải, các đội tàu, mối quan hệ chỉ đạo, hợp đồng với nhiều đơn vị như Công binh Hải quân, Công an Biên phòng, Bộ Tư lệnh Quân khu Ba..., trong loạt bốn bài báo này, chúng tôi chỉ tập trung giới thiệu được phần nào nội dung các lực lượng khoa học - kỹ thuật của Cục Đường biển (từ dưới đây gọi tắt là Đường biển), mà kế thừa phần quản lý nhà nước hiện nay là Cục Hàng hải, đã tham gia vào cuộc chiến chống phong tỏa ra sao.
Dùng khối thuốc nổ tạo thành mìn dưới nước dùng để răn đe hay đánh phá tàu thuyền đối phương đã có lịch sử lâu đời. Cuốn Hỏa Long Kinh (火龙经) thời nhà Minh Trung Hoa thế kỷ 14 còn có những ghi chép về loại mìn dưới nước mà họ gọi là Thủy long vương Pháo và tới thế kỷ 16 đã dùng để đánh bọn cướp biển Nhật Bản. Tới Thế chiến I, thủy lôi đã phát triển mạnh mẽ tại các cường quốc hàng hải. Các loại thủy lôi "sừng" tức thủy lôi chạm nổ là vũ khí rẻ tiền được sử dụng rộng rãi và còn dùng tới tận ngày hôm nay mà ta có thể thấy, được sản xuất tại Xưởng X 28 Hải quân Hải Phòng.
Tới thăm Bộ Môn Thủy lôi khoa Vũ khí Dưới nước Học viện Hải quân Nha Trang, ta sẽ được các nhà khoa học giới thiệu các loại thủy lôi hiện đại nhất hiện nay, các loại thủy lôi từ tính, áp suất, tiếng động... vì dù đã ra đời từ rất lâu nhưng đến tận ngày nay, thủy lôi vẫn là cơn ác mộng với cả những tàu chiến và tàu ngầm hiện đại nhất.
Bắt đầu cuộc chiến
Ngày 26/2/1967, vào lúc 8 giờ đêm, chiếc A-6 của Mỹ từ tàu sân bay Kitty Hawk ngoài vịnh Bắc Bộ tiến hành thả ba quả thủy lôi xuống sông Gianh, hai ngày sau thả xuống sông Lam, đêm ngày 5/3/1967 tiếp tục thả xuống Lạch Trào, sông Nhật Lệ... Tính đến ngày 20/5/1967 Mỹ đã thả 106 thủy lôi các loại thuộc "kẻ hủy diệt" và MK-52 ở bốn cửa sông khu 4.
Kẻ Hủy Diệt! Người Mỹ đã đặt tên cho nó với hy vọng ngăn chặn con đường tiếp viện từ hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam. Kẻ Hủy Diệt đã tập trung những tinh hoa khoa học quân sự nước Mỹ và như họ khoe khoang đây là lần đầu tiên có một thứ bom đạn dùng được cả trên đất liền và sông biển, hoàn toàn thích hợp cho chiến trường Việt Nam.
Đó là vào đầu những năm 1960, người Mỹ phải kiểm kê lại kho vũ khí của mình. Các loại bom công ước, tức là các loại bom cổ điển vẫn còn nhiều trong kho nhưng các thứ vũ khí cần thiết cho một chiến trường đất hẹp, sông biển nhiều lại chưa có.
Thiết kế một loại vũ khí khác thích hợp thật không đơn giản. Lầu Năm Góc bắt đầu áp dụng quan điểm mô đun cho chương trình Kẻ Hủy Diệt, tiếng Anh là Destructor, viết tắt là DST. Với quan điểm mô đun giống như lắp các tổng đoạn con tàu hay ghép các phần của bộ đồ chơi Lego hiện nay, Lầu Năm Góc hy vọng việc chế tạo bom và thủy lôi sẽ dễ dàng và biến hóa tùy theo từng nhu cầu.
Giới thiệu cấu trúc Kẻ Hủy Diệt. Nguồn: Trang web Quân sự Mỹ năm 2011.
Hình vẽ dưới đây là các thành phần của Kẻ Hủy Diệt thuộc dòng Mk40. Như vậy DST vừa có thể là bom khi rơi xuống đất rồi vùi xuống sâu dưới hút bom mà cũng có thể là thủy lôi khi rơi xuống nước.
Tài liệu kỹ thuật Mỹ vẽ chi tiết Mk42 được luồn dây treo vào máy bay ra sao. Nguồn: Trang web Quân Sự Mỹ 2011.
Qua hình vẽ, ta thấy Kẻ Hủy Diệt DST nhìn chung có bốn bộ phận như sau: đầu bom, thân bom, bộ phận kích nổ ở đuôi và cánh đuôi bom. Thân bom tức phần chứa thuốc nổ là những quả bom thông thường, ta chỉ cần lắp thêm bộ "đồ nghề" tức bộ kích nổ khác nhau hay còn gọi bằng một từ đã phổ biến trong tiếng Việt hiện nay là bộ kit là ta sẽ có đủ loại cấu hình bom/thủy lôi khác nhau như Mk40 Mod 1, 2, 3, 4, 5; Mk41 Mod1-âm thanh; Mod2-áp suất /từ tính; Mk42, Mk50...
Vào lúc căng thẳng nhất, Đội 8 Công binh Hải quân - có trách nhiệm cao nhất, hiểu biết sâu nhất về các loại thủy lôi - sau này đã bộc bạch tại hội thảo "Hoạt động của Hải quân Nhân dân Việt Nam trong chống đế quốc Mỹ phong tỏa sông biển miền Bắc Việt Nam 1967-1968 và 1972-1973" được tổ chức tại Hải Phòng ngày 22/2/2005 như sau:
"...tài liệu huấn luyện để biên soạn cho Đội chủ yếu dựa vào tài liệu thủy lôi được học ở Trung Quốc mang về. Học cụ huấn luyện là mấy quả thủy lôi huấn luyện do Liên Xô viện trợ (thủy lôi КБ, АМД-1, АМД-2 ). Trong khi đang tiến hành huấn luyện, theo yêu cầu của ta, Liên Xô cử một tổ chuyên gia sang giúp đỡ, truyền đạt một số kiến thức cơ bản và kinh nghiệm của Liên Xô về chống phong tỏa thủy lôi trong Thế chiến II và Chiến tranh Triều Tiên. Còn đối với thủy lôi hiện có của địch thì bạn và ta chưa biết gì."
Dù chưa biết gì, nhưng chúng ta không bị động, không nao núng. Trước đó một năm, ngày 20/4/1966 Tư lệnh Hải quân Nguyễn Bá Phát đã chủ trì một cuộc họp bàn về chống phong tỏa và hai tháng sau Bộ Tổng tham mưu đã phê duyệt kế hoạch chống phong tỏa của Hải quân Nhân dân Việt Nam.
Người thầy khai tâm
Tại thành phố cảng Hải Phòng, trụ sở của Cục Đường biển tại số nhà 13 Võ Thị Sáu, không xa Bộ Tư lệnh Hải quân, chỉ có 800 mét. Mối thân tình giữa hai đơn vị không phải chỉ vì khoảng cách địa lý mà trong nhiều năm đã có sự hợp tác trên tình đồng chí vì công việc chung và cả tình bạn.
Có vô vàn các sự kiện hợp tác trong sản xuất và chiến đấu, nhưng chỉ kể một sự kiện trước đó bốn năm: sau trận đánh tàu Maddox ngày 5/8/1964, tàu kéo Bạch Đằng 2000 mã lực của Đường biển đã vào Lạch Trường kéo ba tàu hải quân về Lạch Ngần (vịnh Hạ Long) để bước vào chiến đấu. Chính chiếc tàu kéo VTB-2 với đại phó Nguyễn Mạnh Hà đã đưa ba tàu phóng lôi này từ Hải Phòng vào Hòn Nê. Tình bạn giữa Cục trưởng Đường biển Lê Văn Kỳ và Tư lệnh Hải quân Nguyễn Bá Phát càng xiết chặt mối thâm giao khi bà Điềm - vợ của Tư lệnh là một sĩ quan hải quân chuyển ngành, về làm cán bộ phòng hành chính của Đường biển.
Bước vào cuộc chiến chống phong tỏa, Hải quân đã biệt phái hẳn một trung úy trẻ tuổi sang công tác Đường biển. Ngày 18/4/1967, tức là hai tháng sau khi quả thủy lôi đầu tiên ném xuống khu 4, tổ nghiên cứu hỗn hợp Hải quân – Đường biển đã được thành lập và bốn ngày sau, ngày 22/4/1967 thiết kế của thiết bị phá lôi đầu tiên mang tên PĐ-67-1 đã ra đời.
Khác với các chuyên viên vũ khí dưới nước trong Công binh Hải quân được đào tạo chuyên ngành tại các trường quân sự Trung Quốc từ cuối những năm 1960, Hoàng Sơn (1935 - 7/2021) tốt nghiệp kỹ sư cơ điện tàu thủy tại Cao đẳng Hàng hải tại cảng Odessa, Liên Xô, vào năm 1966, một ngôi trường mà nhiều kỹ sư Đường biển cũng từng theo học.
Mặc dù học tại trường dân sự, với đam mê cháy bỏng về các vũ khí dưới nước, Hoàng Sơn đã tiếp xúc các giáo sư, chép, chụp các tài liệu để có một hiểu biết sâu về thủy lôi từ trường mới nhất của Liên Xô. Và giờ đây, trên cương vị biệt phái sang Đường biển, anh trở thành người thầy khai tâm cho các đồng nghiệp của mình. Tiếp đến là các thầy từ Công binh Hải quân, những người được học bài bản từ Trung Quốc những năm 1950.
Tấm hình lịch sử ghi lại bài giảng về từ trường con tàu và cách khử từ, tiêu từ để vượt qua bom đạn đề ngày 28/2/1967, được ông thầy Hoàng Sơn soạn trên cuốn sổ công tác cũ của sĩ quan Hải quân - vào thời gian khó, giấy viết cũng là một vấn đề, ta thấy hết nhiệt tình và tầm vóc của người truyền thụ.
Một trang trong "Hướng dẫn tiêu từ giã chiến" do Hoàng Sơn viết tay trên sổ công tác, hướng dẫn cho Cục Đường biển, đề ngày 28/2/1967.
Mặc dù chỉ gắn với Đường biển một năm đầu tiên, sau đó chuyển sang làm cố vấn cho Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải về chống phong tỏa, ít khi làm việc trực tiếp nhưng mối quan hệ gắn bó giữa Đường biển và Hoàng Sơn, sau chiến tranh mang quân hàm đại tá, thực sự khăng khít. Tất cả anh em phá lôi từ các chiến sĩ đảm bảo hàng hải tới các kỹ sư trên Văn phòng Cục đều nhắc tới đại tá với lòng kính mến.
Chiếc thùng sắt đặc biệt
Tới Bảo tàng Thành phố Hải Phòng ngày nay, trong các thiết bị của thời chiến tranh được trưng bày, có một chiếc thùng sắt rất đặc biệt, đó chính là thiết bị gây kích nổ thủy lôi từ xa.
Bên góc trái của thùng có ghi các ký hiệu PĐ-67-1. Các nhà khoa học Đường biển đặt tên cho sản phẩm của mình với ký hiệu P - phao và Đ - đèn, phao và đèn chiếu sáng là các thiết bị quan trọng, biểu tượng của ngành đảm bảo hàng hải, tức là luôn có phao để tàu có thể dựa vào khi đi trong đêm tối. Phao đèn tốt, luồng lạch khai thông là nhiệm vụ sống còn của công tác đảm bảo hàng hải. Ký hiệu 67 chỉ năm ra đời còn số 1 chỉ phương án đầu tiên, để tiếp tới sẽ có các phiên bản mới.
Thiết bị PĐ-67-1 (trái) và lõi từ hình chữ U hai đầu có nối ăng-ten.
Như đã nói ở trên, thiết kế của thiết bị này được hoàn thành vào ngày 22/4/1967 và sau một tháng, ngày 23/5/1967, thiết bị được chế tạo xong và đưa đi thử nghiệm. Đó là một phao vỏ sắt, đầu phao có gắn một cái anten, phía sau đặt một cuộn phát từ hình chữ U, trong phao có một búa đập tạo âm thanh. Dùng đầu nổ của thủy lôi Mk52 để thử, kết quả cho tín hiệu nổ ở cự ly 17 mét, nhưng đưa thử thực tế ở khu 4 không có kết quả.
Theo Cục trưởng Lê Văn Kỳ, "thiết bị đầu tiên anh em chúng tôi làm 'hơi tham', cũng là trên cơ sở đánh giá là nó thả cả bom âm thanh nên làm một cái thiết bị có cả búa gõ và làm theo sách vở. Nó nặng nề, cồng kềnh. Về phóng từ, cái đầu tiên này chúng tôi dùng kiểu xung từ được phóng từ hai cái râu như hai cái râu anten tivi, sau chuyển sang phóng từ theo trục".
Báo cáo thử nghiệm vào ngày 25/5/1967 tại khu vực Đình Vũ (Hải Phòng) có bút tích của Hoàng Sơn và người phụ trách thử nghiệm Vũ Tấn Khiêm.
Báo cáo thử nghiệm vào ngày 25/5/1967 tại khu vực Đình Vũ (Hải Phòng) có bút tích của Hoàng Sơn và người phụ trách thử nghiệm Vũ Tấn Khiêm.
Dù không đưa được vào thực tế chiến đấu, PĐ-67-1 là một bước thử nghiệm quan trọng mở đầu sau khi Đường biển đã được khai tâm về bom mìn. Nó cũng giúp ta hình dung bất kỳ một sáng chế kỹ thuật nào cũng trải qua thử nghiệm khó khăn, chứ không thể khơi khơi mà thành công được. Tổ nghiên cứu gồm đủ cả các kỹ sư vỏ tàu, máy tàu, điện tàu thủy, người từ Ba Lan, người từ Liên Xô, người học trong nước cùng hợp tác với các kỹ sư Hải quân.
Vũ Tấn Khiêm (1940-2021) là một gương mặt nổi bật trong các kỹ sư cơ khí. Tốt nghiệp Bách khoa năm 1963, anh về ngay Đường biển và giải quyết hàng loạt các bài toán cơ học tại Cảng Hải Phòng, tại Công ty Trục vớt với các dự án cần cẩu trục nổi sức nâng lớn.
Cục trưởng Kỳ thường tự hào mình có trong tay một đội ngũ các kỹ sư giỏi, trong đó có Khiêm, một người có tính độc lập, thường "cãi" lại thủ trưởng. Việc thiết kế PĐ-67-1 cũng cho thấy, dù trong hoàn cảnh chiến tranh, các đề tài đều được làm khá bài bản: có thuyết minh tính toán, có ghi chép số liệu thực nghiệm và đánh giá kết quả, rút kinh nghiệm cho các dự án tiếp theo.
Trong quá trình thiết kế và thử nghiệm, anh em đã trực tiếp nếm mùi bom đạn. Buổi thử nghiệm tại Đình Vũ, đúng vào lúc một máy bay Mỹ lướt qua phóng tên lửa. Người sĩ quan biên phòng đứng cách Vũ Tấn Khiêm không xa đã bay mất một cánh tay trái!
(Còn tiếp)
---
Chú thích: Năm 2022, kỹ sư Đỗ Thái Bình, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kỹ thuật Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam, đã viết cho tuần báo Khoa học & Phát triển loạt bài về chống phong tỏa đường biển, thuật lại những đóng góp khoa học - kỹ thuật và hy sinh xương máu của các cán bộ, kỹ sư để mở luồng cho các con tàu. Nhân kỷ niệm ngày thống nhất đất nước 30/4, Tia Sáng đăng lại loạt này.