B-52 bay ở độ cao hàng chục nghìn mét, được bảo vệ bởi hệ thống gây nhiễu điện tử và các máy bay chuyên săn radar. Phía dưới là những trận địa tên lửa SA-2 với radar, máy tính điều khiển hỏa lực và những kíp chiến đấu phải tìm cách phát hiện, dự đoán đường bay rồi hạ mục tiêu trước khi chính mình bị tiêu diệt.
Trong cuộc đấu trí ấy, Trung tướng Nguyễn Văn Phiệt là một trong những người trực tiếp ngồi sau hệ thống điều khiển tên lửa S-75 Dvina do Liên Xô chế tạo (được NATO gọi là SA-2 "Guideline"). Ông đã phóng 89 quả tên lửa trong chiến tranh, theo lời kể của mình, và được ghi nhận bắn hạ 21 mục tiêu, trong đó có bốn B-52.
Nửa thế kỷ sau, ngồi trong căn nhà ở Hà Nội, ông Phiệt, một trung tướng đã nghỉ hưu và từng là Phó Tư lệnh Quân chủng Phòng không, chia sẻ: "Người Mỹ đã xâm phạm tự do của chúng tôi. Khi ấy, tôi thực hiện trách nhiệm của mình với Tổ quốc".
Bộ đội tên lửa thao tác đưa tên lửa phòng không S-75 Dvina, hỏa lực chủ yếu tiêu diệt máy bay B-52 vào bệ phóng. Ảnh tư liệu
Lá chắn bầu trời thủ đô
Các kíp lái chiến đấu của Mỹ ví SA-2, loại tên lửa hai tầng dài khoảng 10,7 m, như một "cột điện thoại biết bay". Tên lửa nặng khoảng 2.270 kg có tầm bắn hiệu quả khoảng 34 km, lao về phía mục tiêu với tốc độ hơn bốn lần vận tốc âm thanh, có thể đạt độ cao tới 27,4 km và mang đầu đạn phân mảnh nặng khoảng 195 kg. Đầu đạn này có thể xé nát bất cứ thứ gì trong bán kính vụ nổ tối đa khoảng 274 m.
Năm 1960, một tên lửa SA-2 đã bắn hạ máy bay trinh sát U-2 của Francis Gary Powers trên bầu trời Liên Xô. Bảy năm sau, một quả SA-2 đánh trúng chiếc A-4 Skyhawk do John McCain điều khiển, khiến máy bay mất kiểm soát buộc McCain phải phóng ghế thoát hiểm nhảy dù xuống Hà Nội trong tình trạng bị thương nặng và bị bắt làm tù binh.
Và chính SA-2 cũng là loại vũ khí tạo nên một trong những chiến thắng lớn nhất trên không: bắn hạ hơn chục máy bay B-52 trong các cuộc ném bom "12 ngày đêm" năm 1972.
Sau này, thời gian đã xóa gần như mọi dấu tích của những trận địa SA-2 cơ động từng bao quanh Hà Nội - những trận địa biến không phận của thành phố thành một trong những vùng được phòng thủ nghiêm ngặt nhất thế giới. Nhưng không khó để bắt gặp những phiên bản của tên lửa này tại thủ đô Hà Nội.
Trong khuôn viên các bảo tàng quân sự, những quả tên lửa ấy đứng sừng sững như những pho tượng các vị thần Hy Lạp. "Là một người Mỹ, việc chứng kiến những vũ khí từng bắn hạ rất nhiều phi công Mỹ là một trải nghiệm gây chấn động, nếu không muốn nói là có phần khiến người ta bất an", phóng viên David Freed của tờ Smithsonian viết trong bài báo về những người lính tên lửa của Việt Nam.
Máy bay F-105 bị SA-2 tấn công trên bầu trời Việt Nam. Ảnh: Wikimedia Commons
Ông Nguyễn Văn Phiệt gia nhập quân đội miền Bắc Việt Nam năm 1960. Năm năm sau, khi đang là một trung úy trẻ, ông được cử sang Liên Xô cùng khoảng 1.000 đồng đội để học vận hành tên lửa SA-2. Trong suốt chín tháng, họ học tập và huấn luyện 14 giờ mỗi ngày, bảy ngày mỗi tuần, học đủ tiếng Nga để nhiều người có thể trò chuyện với các giảng viên. Phần cuối của khóa huấn luyện là thực hành phóng SA-2 vào hai máy bay không người lái. Ông Phiệt và kíp chiến đấu của mình đã đánh trúng cả hai mục tiêu.
Sau khi tốt nghiệp trường tên lửa, ông Phiệt được điều đến tỉnh Hòa Bình, phía tây nam Hà Nội, để tham gia xây dựng tuyến phòng không vành ngoài bảo vệ thành phố. Giống như những trận địa SA-2 khác được triển khai để bảo vệ miền Bắc, sáu quả tên lửa được giao cho đơn vị của ông Phiệt được bố trí theo hình vòng cung gần tròn trên các bệ phóng cơ động kéo bằng xe tải. Mỗi tên lửa cách các xe điều khiển và hỗ trợ khoảng 1,6 km.
Một khẩu đội SA-2 điển hình sử dụng radar trinh sát Spoon Rest đặt trên xe tải để xác định vị trí mục tiêu và truyền dữ liệu cho một máy tính thô sơ, và radar dẫn đường Fan Song hỗ trợ cả việc phát hiện mục tiêu lẫn dẫn đường cho tên lửa. Để vận hành mỗi quả SA-2 cần tối thiểu năm thành viên chủ chốt, bên cạnh nhân viên bảo dưỡng và các lực lượng hỗ trợ khác: ba người vận hành radar, một người chỉ huy và một khẩu đội trưởng.
Chiều 22/10/1966, trong khi các chuyên gia Liên Xô đang theo dõi, ông Phiệt nhận được báo cáo từ sở chỉ huy ở Hà Nội rằng khoảng hai chục máy bay chiến đấu Mỹ đang bay tới từ Thái Lan. Theo lời ông Phiệt, khi đội hình máy bay còn cách vị trí của ông khoảng 60 km, ông ra lệnh cho các trắc thủ radar bật màn hình, sau đó báo cáo với cấp trên rằng ông đã phát hiện đội hình máy bay đối phương bằng radar. Ông được lệnh phóng một tên lửa khi sẵn sàng. Quả tên lửa SA-2 rít lên và lao khỏi bệ phóng. Dù tự tin vào quá trình huấn luyện và khả năng của mình, ông Phiệt nói ông vẫn bất ngờ khi tên lửa đánh trúng mục tiêu dự định, một chiếc F-105 Thunderchief của Không quân Mỹ.
Hồ sơ của Mỹ cho thấy không có chiếc F-105 nào bị mất trên bầu trời miền Bắc Việt Nam trong ngày hôm đó. Tuy nhiên, một ngày trước đó, một chiếc "Thud" thuộc Phi đội Tiêm kích Chiến thuật 469, đóng tại Thái Lan, được nhìn thấy đã phát nổ thành một quả cầu lửa trong một nhiệm vụ ném bom phía nam Hà Nội. "Cả chiếc máy bay nổ tung", ông Phiệt nhớ lại, mắt vẫn bình thản nhìn vào khoảng không.
Giống như những người lính vận hành SA-2 khác, ông Phiệt và các binh sĩ của mình hiếm khi có ngày nghỉ hoặc được phép nghỉ phép. Khi không trực chiến, họ chợp mắt ngay trong những chiếc xe tải hoặc ngủ trên mặt đất bên ngoài.
Các chuyên gia quân sự Liên Xô huấn luyện tên lửa và các học viên Việt Nam tại một căn cứ ở miền Bắc Việt Nam. Tháng 5 năm 1965. Ảnh: Nikolai Kolesnik/Wikimedia Commons
Đại tá Nguyễn Đình Kiên, một cựu sĩ quan điều khiển hỏa lực SA-2, kể rằng các chuyên gia kỹ thuật Liên Xô đến mỗi tháng một lần để kiểm tra xem mọi thứ có hoạt động bình thường hay không và giải đáp các thắc mắc, và các câu hỏi của những người lính tên lửa thì lúc nào cũng có rất nhiều.
Với tầng đẩy sử dụng nhiên liệu rắn và tầng thứ hai sử dụng nhiên liệu lỏng, SA-2 là một hệ thống vũ khí phức tạp, đòi hỏi phải bảo dưỡng thường xuyên. Các hệ thống radar của mỗi khẩu đội cũng cần được bảo trì định kỳ. Ông Kiên nhớ lại các chuyên gia Liên Xô nói với những người vận hành rằng mỗi quả SA-2 có giá khoảng 100.000 USD vào thời điểm đó - tương đương hơn 700.000 USD ngày nay.
Ngày 28/2/1968, ông Kiên lần đầu tiên nếm trải cảm giác chiến đấu thực sự. Sau khi theo dõi một chiếc A-6 Intruder của Hải quân Mỹ trong 19 km, ông phóng hai quả SA-2. Cả hai đều trượt mục tiêu. Theo lời kể của ông, chiếc Intruder đã sử dụng "những tín hiệu gây nhiễu khó chịu" để làm nhiễu loạn radar của kíp chiến đấu.
Sau đó, ông và các đồng đội chờ đợi, cảm giác như hàng giờ, để chiếc Intruder phản công. "Suốt thời gian đó, tôi luôn sợ rằng mình sẽ bị đối phương đánh trúng", ông nhớ lại. Nhưng kíp lái A-6 đã không tấn công.
Radar điều khiển hỏa lực Fan Song của hệ thống tên lửa đất đối không SA-2. Ảnh: Wikimedia Commons
Cuộc đấu trí 'mèo vờn chuột' giữa những tín hiệu radar
Ralph Wetterhahn là một đại tá Không quân Mỹ đã nghỉ hưu (đồng thời là cộng tác viên của tạp chí Air & Space). Trong ba đợt tham chiến, ông từng lái máy bay F-4C Phantom thực hiện 180 nhiệm vụ trên bầu trời miền Bắc Việt Nam. Sau đó, ông chuyển sang lái A-7E Corsair của Hải quân Mỹ.
Theo Wetterhahn, đến năm 1966, các máy bay chiến đấu đã được trang bị thiết bị cảnh báo và dẫn đường bằng radar, mà các phi công gọi là "RHAW". Một ăng-ten gắn trên phần đuôi máy bay có nhiệm vụ phát hiện các chế độ tìm kiếm và bám bắt của radar được sử dụng để dẫn đường cho SA-2. Thông tin được hiển thị trên một màn hình nhỏ trong buồng lái, có hình giống hồng tâm với ba vòng tròn đồng tâm. Khi radar của đối phương quét qua máy bay, một vệt sáng nhấp nháy sẽ xuất hiện trên màn hình, cho biết hướng bay của máy bay và khoảng cách của nó đến vị trí radar. Tín hiệu "ba vòng" có nghĩa là trận địa đã ở rất gần và nguy hiểm. Khi tên lửa được phóng, một tín hiệu khác xuất hiện và đèn báo phóng màu đỏ bật sáng, đồng thời một âm báo vang lên trong tai nghe của phi công. Các tín hiệu nhấp nháy khác cũng được sử dụng để cảnh báo về những radar điều khiển pháo phòng không 57 mm và 85 mm.
"Có những lúc bay trên bầu trời Hà Nội", Wetterhahn nhớ lại, "màn hình đầy những vệt sáng nhấp nháy, còn tai nghe thì kêu liên hồi". Về sau, các máy bay Phantom được trang bị các thiết bị gây nhiễu QRC-160 gắn dưới cánh, được thiết kế để gây nhiễu radar của tên lửa đất đối không (SAM). Những thiết bị này nhìn chung hoạt động hiệu quả, nhưng đôi khi cũng gặp trục trặc.
Khi các biện pháp đối phó điện tử của Mỹ ngày càng được cải thiện, cùng với những kỹ thuật né tránh hiệu quả hơn - các phi công Mỹ học cách đánh lừa SA-2 bằng cách bổ nhào về phía tên lửa, sau đó kéo mạnh máy bay lên khi tên lửa đổi hướng để bám theo - việc các xạ thủ phòng không miền Bắc Việt Nam khai hỏa chính xác mà không bị đối phương phản kích ngày càng trở nên khó khăn. Trong đó, tên lửa chống radar AGM-78 của Mỹ là đặc biệt đáng lo ngại.
Được phóng từ các máy bay F-105G "Wild Weasel" ở ngoài tầm hoạt động hiệu quả của radar SA-2, AGM-78 có khả năng cơ động rất cao, có thể đổi hướng 180 độ sau khi được phóng và tự tìm đến các hệ thống radar của miền Bắc Việt Nam, ngay cả khi những radar đó đã ngừng phát tín hiệu.
Ra dar Fan Song cần khoảng 75 giây để bắt mục tiêu và phóng tên lửa - một khoảng thời gian đủ dài để Wild Weasel lần theo tín hiệu radar và tấn công trước.
Ông Phiệt cho biết để giảm nguy cơ bị phát hiện và tấn công, ông cùng các đồng đội thường chơi trò "mèo vờn chuột". Họ duy trì radar hoạt động cho đến khi máy bay đối phương đang bay tới chỉ còn cách khoảng 40 km. Sau đó, họ tắt radar và dựa trên tốc độ, khoảng cách cùng hướng bay cuối cùng được xác định của máy bay để tính toán vị trí của nó cho đến khi máy bay chỉ còn cách khoảng 1,6 km. Bệ phóng SA-2 có thể được sử dụng nhiều lần và có khả năng xoay nhanh 360 độ. Khi thời điểm thích hợp đến, kíp chiến đấu sẽ bật radar dẫn đường và tấn công.
Các bệ phóng tên lửa được trang bị bánh xe, cho phép chúng nhanh chóng di chuyển sang vị trí khác. Một trận địa SAM thường có năm hoặc sáu tên lửa, bố trí theo hình ngôi sao sáu cánh xung quanh một vòng tròn đường kính khoảng 12 m, và được dẫn đường bởi radar Fan Song đặt trên một xe điều khiển ở trung tâm. Trên thực tế, các kíp chiến đấu SAM có thể tháo dỡ toàn bộ một trận địa trong khoảng bốn giờ. Tuy nhiên, ông Phiệt cho biết những trận địa được ngụy trang cẩn thận của họ chỉ thay đổi khi họ tin rằng vị trí đã bị máy bay trinh sát Mỹ phát hiện.
Xác B-52 bị bắn rơi tại Hồ Hữu Tiệp (Ngọc Hà, Hà Nội). Ảnh: Colin Mutchler/Wikimedia Commons
Trong suốt cuộc chiến, ông đã phóng 89 quả SA-2 từ nhiều vị trí khác nhau quanh Hà Nội. Ông kể mình đã bắn trúng 21 máy bay, trong đó có chiếc F-105 mà ông bắn hạ đầu tiên, bốn chiếc B-52 mà ông được ghi nhận đã bắn hạ vào tháng 12/1972, một chiếc F-4E Phantom và một chiếc máy bay cánh quạt AD-6 Skyraider. Thành tích đó thực sự đáng kinh ngạc, bởi hồ sơ chiến tranh của Mỹ cho thấy việc một quả SA-2 bắn trúng mục tiêu rất hiếm.
Khi cuộc chiến kéo dài, số lần phóng SA-2 tăng từ mức trung bình khoảng 30 quả mỗi tháng vào năm 1965 lên 220 quả trong giai đoạn 1967-1968, trong khi hiệu quả của loại vũ khí này lại giảm mạnh. Theo cuốn "Archie, Flak, AAA, and SAM: A Short Operational History of Ground-Based Air Defense" (Lược sử tác chiến của hệ thống phòng không mặt đất) của Kenneth P. Werrell, để bắn hạ một máy bay Mỹ vào năm 1965 cần trung bình gần 18 lần phóng SAM. Đến năm 1968, con số này đã tăng lên 107 lần phóng cho mỗi máy bay bị bắn hạ.
Ông Phiệt cho biết các khẩu đội mà ông từng được phân công đã bị tấn công trực tiếp 10 lần. Trận tấn công nghiêm trọng nhất xảy ra ngày 4/9/1972, khi cả ông Phiệt và ông Kiên (lúc này đã gia nhập khẩu đội của ông Phiệt), cùng bắn một chiếc F-4 đang bay tới nhưng không trúng. Đáp lại, phía Mỹ sau đó phóng một tên lửa AGM-78, khiến một binh sĩ 22 tuổi thiệt mạng khi anh đang ngồi trong một xe tải radar, còn ông Phiệt cũng bị thương ở lưng và phải nằm viện một tháng.
"Phần khó khăn nhất là ngày hôm sau", ông Kiên nhớ lại. "Vợ của người lính đến thăm chồng mà không biết anh ấy đã hy sinh. Chúng tôi phải nói dối, bảo với cô ấy rằng anh ấy chỉ tạm thời phải đi nơi khác thôi".
Bảo tàng Chiến thắng B-52, với lối vào chính được bao quanh bởi hai quả SA-2 ngụy trang, trưng bày một tập hợp các bức ảnh và kỷ vật liên quan đến chiến tranh, trong đó nhiều hiện vật không liên quan nhiều đến "pháo đài bay" B-52. Tuy nhiên, khuôn viên xung quanh lại lưu giữ một bộ sưu tập hiện vật phong phú và sát với chủ đề hơn nhiều. Những hiện vật này kể lại câu chuyện Hà Nội tìm cách tự bảo vệ mình, chủ yếu bằng các tên lửa SA-2, trước chiến dịch mà các nhà hoạch định quân sự Mỹ đặt mật danh là Operation Linebacker II, còn người Việt Nam ngày nay gọi là "Điện Biên Phủ trên không", ví chiến dịch này với thất bại mang tính quyết định của quân đội thực dân Pháp trên chiến trường Việt Nam năm 1954.
Sau khi các cuộc đàm phán hòa bình rơi vào bế tắc, chính quyền Nixon ra lệnh không kích vào Hà Nội và cảng Hải Phòng ở miền Bắc. Mục tiêu là thông qua một chiến dịch ném bom tập trung với quy mô chưa từng có, họ sẽ buộc miền Bắc Việt Nam quay trở lại bàn đàm phán và thương lượng chấm dứt sự can dự của Mỹ vào cuộc chiến. Hơn 200 máy bay ném bom B-52 của Bộ Tư lệnh Không quân Chiến lược Mỹ, đóng tại Guam và Thái Lan, được giao nhiệm vụ này. Cùng tham gia còn có hàng trăm máy bay chiến đấu của Không quân, Hải quân và Thủy quân lục chiến Mỹ, với các máy bay hỗ trợ có nhiệm vụ gây nhiễu radar và tấn công các trận địa pháo phòng không.
Ảnh: Bình Giang/Wikimedia Commons
'Không thể dùng sức mạnh để khuất phục ý chí của một dân tộc'
Đối với ông Phiệt và các kíp chiến đấu SA-2, chiến dịch ném bom ban đầu mang đến rất nhiều lo âu. "Ban đầu tất cả chúng tôi đều sợ B-52 vì phía Mỹ nói rằng nó là loại máy bay bất khả chiến bại", ông kể. "Nhưng sau đêm đầu tiên, chúng tôi biết B-52 cũng có thể bị tiêu diệt như bất kỳ máy bay nào khác. Mỹ nói họ muốn ném bom Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá. Nhưng đó là một sai lầm. Không thể nào dùng sức mạnh để khuất phục ý chí của một dân tộc được đâu".
Nếu các nhà hoạch định quân sự Mỹ mắc sai lầm trong việc triển khai chiến dịch ném bom kéo dài 11 đêm, thì theo tác giả Phil Chinnery trong cuốn "Air War in Vietnam" (Chiến tranh trên không ở Việt Nam), sai lầm đó đã xuất hiện ngay từ đầu, khi các máy bay ném bom được bố trí những đường bay và độ cao gần như không thay đổi qua từng đợt.
B-52 bay ở độ cao trên 30.000 feet (9.100 m) và tiến hành ném bom theo đội hình nối đuôi, mỗi máy bay cách nhau từ một dặm (1,6 km) trở lên. Điều này cho phép các kíp SA-2 theo dõi và dự đoán đường bay của B-52 mà không cần bật radar. Họ có thể phóng từng loạt tên lửa về hướng chung của đội hình máy bay ném bom mà gần như không phải lo bị phản kích. Theo thống kê của Mỹ, 15 chiếc B52 bị mất tích, Việt Nam đã phóng 1.242 quả tên lửa (không quân ta tuyên bố đã bắn hạ 34 chiếc). Hơn 1.600 dân thường thiệt mạng do các cuộc ném bom và khoảng 2.000 ngôi nhà bị phá hủy.
Ngày nay, một dấu tích đầy ám ảnh của các cuộc oanh tạc vẫn còn tại hồ Hữu Tiệp nằm ở trung tâm Hà Nội. Tại đây, một phần lớn của càng đáp máy bay B-52, chiếc máy bay bị SA-2 bắn hạ vào đêm 27/12/1972, nhô lên giữa mặt nước phủ đầy màu xanh của tảo. Những mảnh vỡ của chiếc máy bay ném bom bị bắn hạ rơi xuống đã khiến bốn người dân trong khu phố thiệt mạng ngay trên giường ngủ, đồng thời suýt trúng một ngôi chùa cổ cách đó một con phố.
Cách hồ khoảng 1,6 km, bên ngoài Bảo tàng Lịch sử Quân sự, một quả SA-2 đặt trên bệ phóng đã hoen gỉ vẫn chĩa lên bầu trời, như một chứng tích của quãng thời gian chiến tranh khốc liệt. Khi được hỏi ông đánh giá vai trò của SA-2 quan trọng đến mức nào đối với kết cục của cuộc chiến, ông Phiệt nói "trang thiết bị rất quan trọng đấy, nhưng con người sẽ luôn quan trọng hơn".
Kim Dung tổng hợp
---
Nguồn tài liệu:
The Missile Men of North Vietnam. Smithsonia. https://www.smithsonianmag.com/air-space-magazine/missile-men-north-vietnam-180953375/
Take It Down! The Wild Weasels in Vietnam. Air and Space Force Magazine. https://www.airandspaceforces.com/article/0710weasels/