Trong khoảng hai thập niên gần đây, hệ sinh thái tài trợ nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Việt Nam đã chứng kiến sự xuất hiện của các quỹ tài trợ như Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia NAFOSTED và gần hơn là Quỹ Đổi mới sáng tạo Vingroup VinIF - gọi chung là cơ chế quỹ. Các quỹ cùng một số cơ quan tài trợ nghiên cứu khác của bộ ngành, địa Phương và quốc tế đã thay đổi cách tài trợ và quản lý khoa học tại Việt Nam.
Thực tế này phản ánh một thay đổi quan trọng trong cách quản lý khoa học tại Việt Nam. Trong khi ngân sách nhà nước được phân bổ cho cơ quan theo kế hoạch, quỹ tài trợ cho cá nhân nhà khoa học hay nhóm nghiên cứu dựa vào đánh giá ngang hàng (peer-review) về năng lực và ý tưởng nêu trong đề xuất của họ.
Các quỹ không chỉ đóng vai trò phân phối tài trợ mà còn định hướng nghiên cứu và xúc tác xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ nhằm giảm gánh nặng hành chính, tăng tự do học thuật và tạo điều kiện vật chất cho nghiên cứu và khuyến khích nhà khoa học dám chấp nhận rủi ro để tạo ra những đột phá có ý nghĩa.
Sau đây là một số đóng góp cá nhân của tôi về tài trợ nghiên cứu theo cơ chế quỹ trong yêu cầu mới về phát triển khoa học và đổi mới công nghệ.
Nghiên cứu khoa học giống một "cuộc marathon", nơi nhịp độ đều đặn và kiên định quyết định thành công lâu dài. Trong ảnh: Một phòng thí nghiệm ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc (VKIST). Tác giả: Ngọc Thành/VnExpress
Tài trợ dài hạn
Nghiên cứu khoa học là một hành trình dài hạn, đòi hỏi thời gian tích lũy kiến thức, kỹ năng, và kinh nghiệm qua nhiều thế hệ nhà khoa học và sinh viên. Lịch sử nghiên cứu cho thấy các khám phá lớn hiếm khi xuất hiện trong ngắn hạn; chúng thường là kết quả của nhiều năm làm việc có hệ thống, bền bỉ và kiên trì.
Các quốc gia phát triển đã xây dựng cơ chế tài trợ ổn định, dài hạn, minh bach, đồng thời tạo môi trường để các nhà khoa học thử nghiệm, phát triển ý tưởng và chấp nhận rủi ro khoa học một cách có kiểm soát. Họ coi nghiên cứu như một "cuộc marathon", nơi nhịp độ đều đặn và kiên định quyết định thành công lâu dài, thay vì chạy nước rút theo dự án ngắn hạn.
Đổi mới tư duy quản lý
Một đặc điểm chung của các hệ sinh thái khoa học thành công trên thế giới là sự chuyển dịch từ "kiểm soát chi tiết và an toàn thủ tục" sang "hỗ trợ nhà khoa học" đạt mục tiêu nghiên cứu.
Nhà tài trợ và cơ quan quản lý nên tập trung vào chất lượng và tác động của kết quả hơn là sự bất biến của từng hạng mục chi tiêu đã xin và được phê duyệt. Khi các nhà khoa học có thể thay đổi danh mục thiết bị, vật tư và giá cả được phê duyệt khi thị trường biến động hoặc công nghệ mới xuất hiện, họ sẽ tránh phải xin phép thay đổi với nhiều tầng phê duyệt gây chậm trễ, mà tập trung tìm giải pháp tối ưu để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu ban đầu.
Quỹ cần lấy ý kiến phản ánh của các nhà khoa học định kỳ, xác định" điểm nghẽn" để phối hợp với các bộ/ngành tìm giải pháp với tinh thần "tạo điều kiện" cho các nhà khoa học như nêu trên.
Những quốc gia có hệ thống R&D tiên tiến đều chấp nhận rằng thất bại trong nghiên cứu không phải là lãng phí mà là chi phí tất yếu của nghiên cứu đổi mới và tiền không mất đi mà mang lại kinh nghiệm và đào tạo nhân lực. Trong ảnh: Một phòng thí nghiệm nuôi cấy mô ở Đồng Tháp. Tác giả: Ngọc Tài/VnExpress
Đổi mới cách quản lý tài chính
Một trong những trở ngại lớn đối với nhà khoa học ở nhiều là gánh nặng chứng từ, quy định chi tiêu chi tiết và kiểm soát vi mô. Các hệ thống hiệu quả phối hợp với bộ phận tài chính của các cơ sở chuyển sang mô hình khoán chi theo mục tiêu, cho phép linh hoạt điều chỉnh ngân sách trong quá trình thực hiện, và tập trung kiểm toán vào tính hợp lý của kết quả thay vì từng hóa đơn. Điều này không làm giảm tính minh bạch mà ngược lại giúp tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực, bởi nhà khoa học có thể phản ứng nhanh với nhu cầu thay đổi rất thường xảy ra trong quá trình nghiên cứu.
Ở nhiều quốc gia, các trường có văn phòng hỗ trợ nghiên cứu chuyên nghiệp đảm nhận việc quản lý hợp đồng, tài chính, pháp lý và sở hữu trí tuệ, giúp nhà khoa học tập trung vào chuyên môn, giảm gánh nặng hành chính, đồng thời nâng cao khả năng huy động nguồn lực trong nước, quốc tế và hợp tác với doanh nghiệp.
Cơ chế chống xung đột lợi ích
Ở nhiều nước tiên tiến, các quy định về xung đột lợi ích của thành viên hội đồng phản biện hay hội đồng khoa học được áp dụng nghiêm ngặt. Chuyên gia đánh giá phải khai báo mọi quan hệ hợp tác, tài chính hoặc cá nhân với thành viên của nhóm nghiên cứu và bị bắt buộc rút khỏi quá trình thảo luận nếu có liên quan.
Việc vi phạm quy định có thể dẫn đến chế tài hành chính hoặc pháp lý. Đặc biệt, hệ thống này duy trì sự tách biệt giữa khâu phản biện khoa học, quản lý chương trình và phê duyệt ngân sách (được quyết định ở cấp cao hơn), hạn chế khả năng cá nhân hoặc nhóm lợi ích có thể chi phối kết quả.
Việt Nam với cộng đồng khoa học trong nước còn tương đối nhỏ cần thiết lập cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích để bảo đảm tính chuyên nghiệp, tránh thiên vị, nhằm nâng cao niềm tin và hiệu quả đầu tư cho nghiên cứu.
Mỗi chương trình tài trợ có thể có những yêu cầu riêng bên cạnh các tiêu chí chung. Các phản biện cần được hướng dẫn về tiêu chí, mục tiêu và chuẩn mực đánh giá dự án, trong khi ứng viên được đào tạo về mục tiêu của tài trợ và các yêu cầu của quỹ.
Ngoài thông tin về chương trình tài trợ cụ thể được đưa trên trang mạng của cơ quan, quỹ nên có nhân viên có kinh nghiệm sẵn sàng trả lời câu hỏi, giải thích và hướng dẫn.
Minh bạch trong đánh giá
Quá trình xét duyệt ngang thường được thực hiện bởi các hội đồng phản biện khoa học độc lập có thành viên bên ngoài quỹ, đôi khi có thành viên quốc tế, nhằm đánh giá dựa trên tiêu chí rõ ràng và cung cấp báo cáo chi tiết cho từng đề xuất. Phản biện không chỉ để lựa chọn dự án mà còn giúp "nâng cao chất lượng nghiên cứu ngay từ giai đoạn đề xuất".
Ứng viên nhận được phản hồi của các phản biện để hiểu rõ mặt mạnh mặt yếu, và ý kiến đóng góp giúp họ cải thiện phương pháp, thiết kế thí nghiệm và kế hoạch. Quá trình này tương tự phản biện bài báo khoa học, làm tăng chất lượng nghiên cứu và kỹ năng viết đề xuất, thay vì chỉ là thủ tục của cấp kinh phí.
Ở Việt Nam, theo một số thông tin, các nhà nghiên cứu chỉ nhận được thông báo "được hay không được", mà không nhận được ý kiến phản biện chi tiết của các chuyên gia trong hội đồng, thường là ý kiến có giá trị có thể giúp nâng cao chất lượng dự án. Phản biện cần được sử dụng như một công cụ phát triển nghiên cứu, thay vì chỉ là bước sàng lọc.
Có danh mục tài trợ đa dạng
Các hệ thống khoa học phát triển coi đào tạo nguồn nhân lực nghiên cứu là một mục tiêu trung tâm của tài trợ với nhiều loại tài trợ cho đào tạo nghiên cứu sinh và sau tiến sĩ, hỗ trợ nghiên cứu viên trẻ, phát triển ý tưởng mới, xây dựng nhóm nghiên cứu, thương mại hóa công nghệ, đến tài trợ đề tài của công ty nhỏ. Tại Việt Nam, đào tạo năng lực nghiên cứu chủ yếu thông qua việc triển khai đề tài, trong khi các loại tài trợ cho các đối tượng còn hạn chế.
Việt nam có thể tham khảo mô hình các trường đại học nghiên cứu mạnh trên thế giới nơi lực lượng làm nghiên cứu không phải là giáo sư hay nhân viên dài hạn mà là thạc sĩ, tiến sĩ và sau tiến sĩ làm theo hợp đồng. Tài trợ đủ trả lương cho lực lượng này sẽ giúp xây dựng và duy trì môi trường học thuật năng động nhờ nguồn nhân lực tràn trề năng lượng với nhiều ý tưởng mới và có khả năng tạo đột biến cao.
Quỹ VinIF có danh mục tài trợ đa dạng, từ các dự án khoa học và công nghệ, học bổng thạc sĩ/tiến sĩ/sau tiến sĩ đến chương trình đào tạo. Ảnh: Vingroup
Tài trợ trung tâm đa ngành
Một số đề tài ưu tiên đòi hỏi hợp tác đa ngành để giải quyết những vấn đề giá trị cao cần được tổ chức thành "trung tâm hợp tác ảo", để các nhóm nghiên cứu từ nhiều viện, trường và doanh nghiệp với các kỹ năng và thiết bị bổ sung cùng tham gia trong lúc có tài trợ. Đây là cách tập trung đầu tư và năng lực nghiên cứu để đạt kết quả nhanh và có giá trị cao.
Thêm chi phí gián tiếp
Ở nhiều hệ thống tiên tiến, kinh phí tài trợ có phần chi phí gián tiếp, trung bình là 30% (có trường lên tới 70%). Nghĩa là, nếu một dự án được tài trợ 1 tỷ thì trường sẽ có 300 triệu để đầu tư cho cơ sở vật chất, vận hành phòng thí nghiệm, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ chuyên nghiệp và đào tạo thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách nhà nước.
Ở Việt Nam, ngân sách nhà nước cấp trực tiếp cho viện/trường để duy trì bộ máy và cơ sở vật chất. Do đó, kinh phí tài trợ cho đề tài chỉ tập trung cho đề tài cụ thể còn kinh phí gián tiếp thường không được tính đầy đủ. Cải cách cơ chế tài trợ để có thêm chi phí gián tiếp sẽ giúp các tổ chức nghiên cứu có thể xây dựng hệ thống phục vụ nghiên cứu bền vững. Cách làm này gắn thành công của các chủ nhiệm đề tài với thành công của cơ quan chủ quản như trường đại học, thúc đẩy các trường hỗ trợ các nhà khoa học xin tài trợ để phát triển năng lực và mở rộng hợp tác quốc tế.
Tái xác định chỉ tiêu đánh giá
Hoạt động khoa học ở nhiều nước được đo chủ yếu bằng số lượng công bố, dẫn đến xu hướng chạy theo số lượng thay vì chất lượng. Một hệ thống R&D trưởng thành cần đánh giá nghiên cứu không chỉ qua số lượng và chất lượng của công bố mà còn mức tác động ảnh hưởng qua đóng góp tri thức, mở hướng nghiên cứu mới, thu hút tài trợ và hợp tác liên ngành và quốc tế, đào tạo nguồn nhân lực, giải quyết vấn đề thực tiễn, tác động xã hội hoặc ảnh hưởng đến chính sách công.
Việc xác định mục tiêu và chỉ số đánh giá cần được thiết kế theo nguyên tắc mục tiêu thông minh (SMART) để tránh nóng vội, không tưởng, hô hào mà có thể đo lường được, phù hợp với từng lĩnh vực và gắn với kết quả cuối cùng. Các chỉ số này phải tránh khuyến khích hoạt động hình thức, giảm yêu cầu báo cáo họp hành không cần thiết, hạn chế áp lực hành chính, để bảo vệ thời gian cho nghiên cứu thực chất.
SMART goals (mục tiêu SMART) là cách đặt mục tiêu rõ ràng và hiệu quả, gồm 5 yếu tố:
S – Specific (Cụ thể): Mục tiêu rõ ràng, không mơ hồ.
M – Measurable (Đo lường được): Có tiêu chí để đánh giá tiến độ hoặc kết quả.
A – Achievable (Khả thi): Có thể đạt được với nguồn lực hiện có.
R – Relevant (Phù hợp): Liên quan đến mục tiêu lớn hơn hoặc nhu cầu thực tế.
T – Time-bound (Có thời hạn): Có mốc thời gian hoàn thành.
Các Quỹ không chỉ cung cấp tài trợ mà còn định hướng nghiên cứu và kiến tạo nền tảng hỗ trợ để các nhà khoa học sử dụng hiệu quả tài trợ nhận được.
Chính sách R&D cần khuyến khích hợp tác đại học–doanh nghiệp thông qua các chương trình đồng tài trợ. Trong ảnh: Các lãnh đạo nhà nước tương tác với robot tại khu vực trưng bày thành tựu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Hà Nội, 28/8/2025. Tác giả: Lưu Quý/VnExpress
Một yếu tố then chốt của hệ sinh thái R&D hiện đại là liên kết chặt chẽ giữa khu vực học thuật và khu vực sản xuất. Tri thức khoa học chỉ tạo ra giá trị kinh tế khi được chuyển hóa thành công nghệ, sản phẩm và dịch vụ. Vì vậy, chính sách R&D cần khuyến khích hợp tác đại học–doanh nghiệp thông qua các chương trình đồng tài trợ, phòng thí nghiệm chung, cơ chế chia sẻ sở hữu trí tuệ và hỗ trợ thương mại hóa. Các trường đại học cần được trao quyền tự chủ lớn hơn trong quản lý tài sản trí tuệ và hợp tác với doanh nghiệp, đồng thời phải chịu trách nhiệm về chất lượng và tác động của hoạt động chuyển giao.
Tuy nhiên, liên kết với doanh nghiệp không nên làm suy yếu nghiên cứu cơ bản. Một hệ thống khoa học bền vững phải duy trì cân bằng giữa khám phá dài hạn và ứng dụng ngắn hạn. Nhiều quốc gia châu Á đã thành công nhờ đầu tư mạnh vào nghiên cứu cơ bản trong giai đoạn đầu, đồng thời từng bước phát triển năng lực công nghiệp để hấp thụ tri thức. Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm này bằng cách duy trì tài trợ ổn định cho nghiên cứu nền tảng, đồng thời tạo các cơ chế chuyển tiếp để kết nối nghiên cứu với đổi mới công nghệ.
Phối hợp với quỹ tư nhân, quỹ quốc tế và doanh nghiệp
Ở các nước phát triển, các cơ quan tài trợ thường trao đổi phối hợp với nhau và với các quỹ tư nhân, quỹ quốc tế hay doanh nghiệp để tìm hiểu kinh nghiệm, mục tiêu, để phối hợp tài trợ để tránh trùng lặp, cho các giai đoạn phát triển của sản phẩm hay hợp vốn cho dự án lớn hay dự án quốc tế. Đây là cách quỹ của Việt Nam nên làm để xây dựng hệ sinh thái tài trợ R&D vận hành hiệu quả, giảm áp lực ngân sách công.
---
*Ghi chú: Bài viết trình bày những ý kiến cá nhân của tác giả, không đại diện cho cơ quan chủ quản.