Trong cuộc trao đổi với Tia Sáng, ông Marc Knapper, cựu Đại sứ Mỹ tại Việt Nam, hiện là nhà sáng lập và Giám đốc điều hành tổ chức tư vấn đầu tư Knapper Global Advisors, chia sẻ quan điểm về sự dịch chuyển của chuỗi cung ứng, yêu cầu về xuất xứ hàng hóa và những điều kiện để Việt Nam thu hút đầu tư dài hạn, đồng thời nâng cao năng lực sản xuất trong nước.
Cựu đại sứ Mỹ Marc Knapper. Ảnh: Ngọc Thành. Thiết kế: Ngô Hà
- Việt Nam đang thu hút đầu tư vào nhiều lĩnh vực công nghệ cao như bán dẫn, AI. Nhưng thu hút được nhà máy chưa đồng nghĩa với việc doanh nghiệp trong nước có thể tham gia sâu vào chuỗi cung ứng. Theo ông, Việt Nam nên tiếp tục theo đuổi những lĩnh vực cạnh tranh gay gắt này hay tập trung vào những ngành ít chịu tác động hơn? Đâu là điều kiện để Việt Nam tận dụng được cơ hội và nâng cao sức cạnh tranh trong dài hạn?
- Tôi sẽ không khuyên Việt Nam hay bất kỳ quốc gia nào rút lui về những lĩnh vực được cho là "an toàn", ít cạnh tranh. Việt Nam có tham vọng thực sự trong việc nâng cao vai trò ở các ngành bán dẫn, AI và đất hiếm. Những tham vọng đó xuất phát từ tư duy chiến lược nghiêm túc và được hậu thuẫn bởi các chính sách mạnh mẽ của Chính phủ. Dưới sự lãnh đạo hiện nay, Việt Nam đang nhanh chóng tháo gỡ các điểm nghẽn và ban hành các quy định nhằm hỗ trợ phát triển những ngành công nghệ cao có sức cạnh tranh.
Tôi cũng muốn nói thêm rằng những lĩnh vực được coi là "an toàn" có thể không an toàn như chúng ta nghĩ. Không ngành nào hoàn toàn miễn nhiễm trước các chính sách thương mại.
Nhìn xa hơn, Việt Nam chỉ còn một khoảng thời gian có hạn, có lẽ mười năm hoặc ít hơn, trước khi lực lượng lao động già hóa khiến đất nước giảm sức hấp dẫn với tư cách một trung tâm sản xuất.
Hoạt động sản xuất có biên lợi nhuận thấp đã mang lại những thành tựu kỳ diệu cho kinh tế Việt Nam trong vài thập kỷ qua. Nhưng nếu tiếp tục dựa vào mô hình này, Việt Nam sẽ phải đối mặt với những rủi ro cơ cấu nghiêm trọng hơn trong tương lai. Điều đó sẽ rất đáng tiếc, bởi tôi tin Việt Nam đang đứng trước một cơ hội thực sự.
Đất nước của các bạn đang từng bước xây dựng những nền tảng phù hợp, theo đúng trình tự cần thiết. Theo tôi, yếu tố giúp Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn đối với những nhà đầu tư nghiêm túc là một hệ thống quy định có tính dự báo, nhất quán và minh bạch, thay vì né tránh những lĩnh vực có tính cạnh tranh cao.
Xuất xứ hàng hóa: Điều quan trọng là giá trị thực sự được tạo ra ở đâu
- Trước những yêu cầu ngày càng chặt chẽ của Mỹ về xuất xứ hàng hóa, Việt Nam cần làm gì để chứng minh giá trị thực sự được tạo ra trong nước, nhất là khi chuỗi cung ứng phụ thuộc vào nguyên liệu và linh kiện nhập khẩu từ nhiều quốc gia?
- Tôi nghĩ trước hết cần làm rõ thuật ngữ này, bởi hiện nay mức thuế cao được đưa ra với hàng hóa bị coi là "chuyển tải" (transshipment) đang được những người khác nhau hiểu theo những cách khác nhau. Theo đúng nghĩa, chuyển tải là việc lấy một sản phẩm được sản xuất tại một quốc gia, thay nhãn xuất xứ rồi đưa qua một quốc gia khác nhằm né thuế quan. Đó là hành vi gian lận, vi phạm pháp luật, và Việt Nam đang xử lý vấn đề này rất nghiêm túc.
Hải quan Việt Nam đã tăng cường kiểm tra trước xuất khẩu, tập trung vào hàng hóa có nguồn gốc từ Trung Quốc. Tháng 6, cơ quan này đã ký thỏa thuận với Cơ quan Hải quan và Bảo vệ Biên giới Mỹ (CBP) nhằm chia sẻ dữ liệu hàng hóa theo thời gian thực để phát hiện gian lận xuất xứ. Chính phủ Việt Nam cũng đã cấm nhập khẩu hàng hóa được sản xuất bằng lao động cưỡng bức.
Các nhà nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cũng đưa ra kết luận tỷ lệ giá trị nội địa gia tăng trong hàng xuất khẩu Việt Nam phản ánh hoạt động sản xuất thực sự đang dịch chuyển sang Việt Nam, chứ không phải là thay nhãn xuất xứ.
Vấn đề chỉ trở nên phức tạp hơn khi thuật ngữ chuyển tải được sử dụng theo nghĩa rộng, bao gồm cả những hoạt động đầu tư và chuỗi cung ứng thông thường.
Một nhà máy tại Việt Nam nhập linh kiện từ Trung Quốc, tạo ra giá trị gia tăng thực chất rồi xuất khẩu thành phẩm thì không thể coi là đang thực hiện hành vi chuyển tải bất hợp pháp. Một nhà máy có vốn đầu tư Trung Quốc, sử dụng hàng nghìn lao động Việt Nam, cũng vậy. Đó là cách ngành sản xuất hiện đại vận hành trên toàn thế giới, kể cả tại Mỹ.
Theo luật hải quan Mỹ đã được áp dụng từ lâu, xuất xứ hàng hóa phụ thuộc vào việc sản phẩm có trải qua quá trình chuyển đổi đáng kể về bản chất hay không, chứ không phụ thuộc vào chủ sở hữu nhà máy hoặc quốc gia xuất xứ của từng linh kiện. Tôi cho rằng việc duy trì sự phân biệt rõ ràng này sẽ có lợi cho cả hai nước.
Một lý do khiến vấn đề này quan trọng là việc áp dụng tiêu chuẩn rộng hơn dựa trên hàm lượng giá trị rất khó đo lường và thực thi trong thực tế.
Một số mẫu chip bán dẫn do kỹ sư Qorvo Việt tham gia phát triển. Ảnh: Lưu Quý
Hãy lấy ví dụ một chiếc điện thoại thông minh được lắp ráp tại Việt Nam. Nó chứa hàng trăm linh kiện đến từ Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan và Trung Quốc. Khi chiếc điện thoại cập cảng Long Beach (Mỹ), nhân viên hải quan nhìn thấy một hóa đơn và một thùng hàng. Để xác định bao nhiêu phần trăm giá trị của chiếc điện thoại được tạo ra tại Việt Nam, cần truy vết linh kiện qua nhiều tầng nhà cung cấp, kiểm tra hồ sơ và tiến hành kiểm toán, có thể rất lâu sau khi hàng hóa đã được nhập khẩu. Một tập đoàn toàn cầu lớn có thể đáp ứng được yêu cầu này. Nhưng đối với một doanh nghiệp sản xuất đồ nội thất quy mô vừa của Việt Nam, công việc đó sẽ khó khăn hơn nhiều.
Ngay cả các ước tính về quy mô chuyển tải bất hợp pháp trên toàn cầu cũng chênh lệch rất lớn, từ khoảng 40 tỷ USD đến hơn 300 tỷ USD mỗi năm. Điều này cho thấy việc đo lường khó khăn đến mức nào.
Nếu thiếu một tiêu chuẩn rõ ràng, các nhà xuất khẩu làm ăn chân chính có nguy cơ phải gánh chịu chi phí tuân thủ, trong khi sự bất định sẽ làm nản lòng chính những khoản đầu tư mà cả hai quốc gia đều mong muốn thu hút.
Phát triển nhà cung cấp trong nước, tăng khả năng truy xuất nguồn gốc
- Vậy ông có những khuyến nghị cụ thể nào dành cho Việt Nam?
- Tôi có ba khuyến nghị. Thứ nhất, tiếp tục rà soát xử lý nghiêm các hành vi gian lận thực sự nếu có, đồng thời đầu tư vào hệ thống truy xuất nguồn gốc để những nhà xuất khẩu tuân thủ pháp luật có thể nhanh chóng chứng minh xuất xứ hàng hóa.
Thứ hai, tiếp tục phát triển sâu hơn các chuỗi cung ứng nội địa. Đây cũng là mục tiêu của Nghị quyết 10 (Nghị quyết 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài), với định hướng đưa 10.000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và nâng tỷ lệ nội địa hóa trong những ngành công nghiệp chủ chốt lên 45–50% vào năm 2030. Dù trong kịch bản nào, điều này cũng có lợi cho Việt Nam.
Thứ ba, tiếp tục làm việc với Washington trên tinh thần đối tác để xây dựng một tiêu chuẩn rõ ràng, được công bố công khai và có thể kiểm chứng. Tiêu chuẩn đó cần nhắm đúng vào hành vi gian lận thực sự, đồng thời duy trì dư địa cho các hoạt động đầu tư bình thường.
Cách tiếp cận này sẽ bảo vệ những nhà xuất khẩu chân chính ở cả hai phía và tạo ra sự ổn định, dễ dự báo mà các nhà đầu tư thường nói với tôi rằng họ mong muốn.
- Với vai trò là một trong 13 cố vấn cho Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam mới mở tại TP.HCM, ông sẽ nói gì với các quỹ đầu tư nước ngoài được quản lý chủ động đang cân nhắc đầu tư vào Việt Nam?
- Đối với các quỹ đầu tư chủ động, tôi muốn nói rằng Việt Nam là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới, vượt nhiều thị trường mới nổi cùng nhóm, và nơi đây đang trưởng thành với tốc độ đáng kinh ngạc.
Một điều Việt Nam đã làm đúng là biết lắng nghe các nhà đầu tư và cộng đồng doanh nghiệp. Nếu tham gia thị trường từ sớm, nhà đầu tư sẽ có cơ hội đóng góp vào quá trình thảo luận và góp phần định hình tương lai của một đất nước có tiềm năng rất lớn.
Đối với một nhà đầu tư Mỹ còn do dự, lập luận mạnh nhất để chưa đầu tư vào Việt Nam cũng chính là lập luận mà họ từng đưa ra đối với mọi thị trường tăng trưởng nhanh. Họ đã nói điều tương tự về Trung Quốc năm 1990 và Ấn Độ năm 2000. Phần lớn những người quyết định chờ đợi sau đó đều phải hối tiếc.
Tôi thường nghe những câu hỏi liên quan đến hạ tầng vận hành của thị trường tài chính: dòng vốn có thể ra vào dễ dàng đến đâu, các tranh chấp sẽ được giải quyết như thế nào, và làm sao quản lý mức độ rủi ro từ thương mại toàn cầu khi chính sách thương mại, chủ yếu từ Washington, liên tục thay đổi. Đó đều là những câu hỏi xác đáng. Và Việt Nam đang tìm cách trả lời những câu hỏi đó. Đây chính là lý do Trung tâm Tài chính quốc tế được thành lập.
Nhóm mà tôi đang làm việc tại đây tập trung xây dựng nền tảng thể chế trước tiên: các quy tắc và quy định rõ ràng, cùng cơ chế giải quyết tranh chấp công bằng, độc lập và minh bạch. Họ đang thu hút những nhân sự tài năng, và Chính phủ Việt Nam đã dành sự hỗ trợ rất lớn cho quá trình này. Thành phố Hồ Chí Minh đã tăng 28 bậc trong Chỉ số Trung tâm Tài chính toàn cầu năm nay.
Việc xây dựng một trung tâm tài chính cần thời gian, và những nhà đầu tư tham gia từ sớm có thể góp phần định hình trung tâm đó.
Việt Nam có một vị trí vô cùng đặc biệt trong trái tim tôi. Đó là lý do sau khi kết thúc nhiệm kỳ Đại sứ, tôi đã chọn ở lại: tham gia cố vấn cho Trung tâm Tài chính quốc tế và, thông qua Knapper Global Advisors, giúp các nhà đầu tư hiểu rõ cả cơ hội lẫn rủi ro để họ có thể tự tin đầu tư vào Việt Nam.
Trân trọng cảm ơn ông!
Nhóm phóng viên thực hiện
[1] Báo Điện tử Chính phủ. (2026, ngày 25 tháng 6). Hải quan Việt Nam - Hoa Kỳ mở rộng hợp tác chia sẻ dữ liệu số. https://baochinhphu.vn/hai-quan-viet-nam-hoa-ky-mo-rong-hop-tac-chia-se-du-lieu-so-102260625201713949.htm
[2] Bộ Chính trị. (2026, ngày 8 tháng 6). Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. https://dhannd.bocongan.gov.vn/nghi-quyet-so-10-nq-tw-ngay-08-6-2026-cua-bo-chinh-tri-ve-phat-trien-kinh-te-co-von-dau-tu-nuoc-ngoai-a-4368
[3] International Trade Administration. (n.d.). Rules of origin: Substantial transformation. U.S. Department of Commerce. https://www.trade.gov/rules-origin-substantial-transformation
[4] Iyoha, E., Malesky, E., Wen, J., & Wu, S.-J. (2025). Exports in disguise?: Trade rerouting during the US–China trade war (Working Paper No. 022). Centre for Inclusive Trade Policy. https://citp.ac.uk/publications/exports-in-disguise-trade-rerouting-during-the-us-china-trade-war
[5] Schulze, T., & Xin, W. (2025). Demystifying trade patterns in a fragmenting world (IMF Working Paper No. 2025/129). International Monetary Fund. https://doi.org/10.5089/9798229011679.001
[6] Viet Nam International Financial Center in Ho Chi Minh City. (2026, October 6). HCMC climbs 17 spots to 67th in Global Financial Centres Index (GFCI 40). https://vifc.gov.vn/en/news/hcmc-climbs-17-spots-to-67th-in-global-financial-centres-index-gfci-40
[7] Vietnam Signals, (2026), Marc Knapper: Vietnam Does Not Have to Choose Sides, https://vietnamsignals.substack.com/p/marc-knapper-vietnam-does-not-have