Sau khi Việt Nam ban hành chính sách mới nhằm tăng thu hút đầu tư nước ngoài, Tia Sáng đã có cuộc trao đổi nhanh với ông Marc Knapper, cựu Đại sứ Mỹ tại Việt Nam nhiệm kỳ 2022-2026, về triển vọng Việt Nam tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng công nghệ cao và trở thành đối tác công nghệ tin cậy của Mỹ.
- Là một trong những tiếng nói có ảnh hưởng trong thúc đẩy hợp tác giữa Mỹ và Việt Nam, và hiện cũng trực tiếp tư vấn cho các nhà đầu tư, ông thường nghe các nhà đầu tư Mỹ nói gì về Việt Nam? Điều gì thu hút họ đầu tư vào đây và có những điều gì khiến họ còn e dè?
- Tâm lý của các nhà đầu tư Mỹ hiện rất tích cực và sự quan tâm dành cho Việt Nam vẫn rất lớn.
Khi trao đổi với các doanh nghiệp và quỹ đầu tư Mỹ, tôi thường nghe họ nhắc đến những yếu tố tương tự nhau. Họ nhìn thấy tốc độ tăng trưởng cao của Việt Nam so với các nước trong khu vực, cho thấy đất nước này đang đi đúng hướng trên nhiều phương diện. Họ đánh giá cao sự ổn định chính trị, vị trí chiến lược và lực lượng lao động chất lượng. Một yếu tố ngày càng được nhắc đến nhiều hơn là năng lượng xanh. Các nhà đầu tư nhận thức rõ nguồn tài nguyên năng lượng xanh dồi dào và tiềm năng của Việt Nam, yếu tố ngày càng quan trọng đối với các nhà đầu tư châu Âu và Mỹ.
Điều khiến họ do dự không nằm ở mức độ quan tâm, mà là khả năng dự đoán trước các chính sách. Các nhà đầu tư tổ chức lớn muốn biết rằng những quy định đang áp dụng với họ hôm nay sẽ tiếp tục được duy trì trong 5 hoặc 10 năm tới, và mọi tranh chấp sẽ được giải quyết một cách công bằng, minh bạch và có thể dự đoán trước.
Trớ trêu thay, nguồn gốc lớn nhất của sự bất định đối với các nhà đầu tư Mỹ tại Việt Nam trong năm nay lại không đến từ Hà Nội, mà từ Washington. Các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam đã phải hoạt động dưới ba cơ chế thuế quan khác nhau của Mỹ chỉ trong một năm.
Dù vậy, những nền tảng làm nên sức hấp dẫn của Việt Nam vẫn không thay đổi, và các số liệu năm nay đã chứng minh điều đó. Tổng vốn FDI đăng ký đạt 50,36 tỷ USD trong chín tháng đầu năm nay, tăng 76% so với cùng kỳ năm trước. Vốn FDI giải ngân, tức nguồn vốn thực tế được đưa vào hoạt động, đạt 21,07 tỷ USD, mức cao nhất của cùng kỳ trong vòng 5 năm.
Ông Marc Knapper, cựu Đại sứ Mỹ tại Việt Nam nhiệm kỳ 2022-2026. Ảnh: Đại sứ quán Mỹ cung cấp. Thiết kế: Hồng Ngọc
- Ông đánh giá thế nào về Nghị quyết 10 ban hành ngày 8/6/2026 về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài? Nghị quyết này có thể thay đổi điều gì trong cách nhìn của các nhà đầu tư Mỹ, và đâu là những điểm vẫn chưa đủ sức thuyết phục họ?
- Nghị quyết 10 gửi đi một thông điệp mạnh mẽ từ cấp lãnh đạo cao nhất rằng các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân, với tầm nhìn kéo dài đến năm 2045.
Tôi hoan nghênh Nghị quyết này. Các nhà đầu tư mà tôi đang tư vấn, dù đến từ Mỹ, Nhật Bản hay Hàn Quốc, cũng đều đón nhận tích cực.
Đối với nhà đầu tư, trước hết, Nghị quyết 10 thể hiện cam kết vững chắc của Chính phủ Việt Nam rằng họ được chào đón và các quyền lợi của họ được bảo vệ, bao gồm quyền sở hữu trí tuệ, tài sản, vốn đầu tư và các khoản thu nhập hợp pháp.
Cam kết đó giúp họ tự tin gắn bó lâu dài hơn, mở rộng hiện diện tại Việt Nam và, như các nhà lãnh đạo Việt Nam kỳ vọng, góp phần xây dựng một hệ sinh thái có khả năng chống chịu tốt hơn. Nghị quyết này có thể trở thành một bước ngoặt thực sự đối với tất cả các nhà đầu tư.
Điều này đặc biệt quan trọng khi Việt Nam đang tìm kiếm nhà đầu tư trong những lĩnh vực công nghệ cạnh tranh cao, nơi các cam kết đầu tư đều mang tính dài hạn.
Một nhà máy chế tạo bán dẫn hay phòng thí nghiệm nghiên cứu và phát triển (R&D) không thể dễ dàng di dời. Một trung tâm dữ liệu cần nhiều năm cùng lượng vốn khổng lồ để xây dựng. Một ngân hàng hoặc tổ chức tài chính cần thời gian để phát triển đội ngũ nhân sự. Tất cả đều cần sự bảo đảm về môi trường quản trị trước khi đưa ra cam kết đầu tư.
Nếu sự chào đón và những biện pháp bảo vệ đó được duy trì, tôi tin rằng kết quả sẽ là ý thức trách nhiệm lớn hơn từ phía các nhà đầu tư. Và đây chính là điều tôi đang chứng kiến:
Những nhà đầu tư có kế hoạch ở lại lâu dài, mang theo công nghệ, vốn và tri thức chuyên môn, đều nhìn nhận mình là đối tác lâu dài của Việt Nam.
Họ thực hiện nghiêm túc trách nhiệm kinh doanh và trách nhiệm xã hội. Họ đóng góp một cách xây dựng vào quá trình hoàn thiện chính sách. Đồng thời, họ trở thành những người truyền tải thông điệp tích cực tới các nhà đầu tư còn do dự tại quê nhà.
Các nhà đầu tư dài hạn giờ đây sẽ theo dõi những luật, nghị định và thông tư cụ thể hóa Nghị quyết. Với tốc độ xây dựng và ban hành pháp luật rất nhanh của Việt Nam thời gian qua, tôi tin rằng những văn bản này sẽ được ban hành và đáp ứng kỳ vọng.
Nếu có một rủi ro đối với bất kỳ nhà đầu tư nào, thì đó không hẳn là Việt Nam chưa sẵn sàng, mà là quá trình hoàn thiện môi trường pháp lý có thể kéo dài, khiến họ trì hoãn các quyết định đầu tư.
Các nhà đầu tư Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản và nhiều quốc gia khác đã bắt đầu hành động. Họ rót vốn lớn và nhập cuộc nhanh. Doanh nghiệp Mỹ thì do dự hơn. Tôi mong được chứng kiến nhiều doanh nghiệp Mỹ tham gia đầu tư vào Việt Nam hơn.
Sản xuất tại nhà máy Intel ở Khu Công nghệ cao TP HCM. Ảnh: Intel
- Trong nhiệm kỳ của ông, Việt Nam là một trong 8 quốc gia tham gia chương trình đối tác chuỗi cung ứng bán dẫn theo Đạo luật CHIPS nhưng kể từ đó, chính sách công nghiệp của Mỹ đã thay đổi. Vậy những cam kết này sau đó được triển khai trên thực tế như thế nào?
Tôi muốn trả lời câu hỏi này theo hai phần: chính sách công nghiệp của Mỹ hiện đang ở đâu và quan hệ đối tác giữa Mỹ với Việt Nam đang được triển khai như thế nào trên thực tế.
Mục tiêu của chính sách công nghiệp Mỹ có tính nhất quán cao hơn những gì các dòng tít báo chí có thể khiến chúng ta hình dung. Cả chính phủ nhiệm kỳ trước và nhiệm kỳ này đều muốn Mỹ tiếp tục giữ vai trò dẫn đầu trong các ngành công nghiệp tương lai, chẳng hạn như bán dẫn. Sự khác biệt chủ yếu nằm ở trọng tâm chính sách, khi chính phủ hiện tại tập trung đưa thêm các hoạt động sản xuất công nghệ cao trở lại Mỹ.
Tôi không cho rằng điều đó mâu thuẫn với việc xây dựng quan hệ đối tác với Việt Nam.
Đưa hoạt động sản xuất trở về trong nước và hợp tác với các đối tác đáng tin cậy ở nước ngoài là hai hướng đi bổ trợ cho nhau, bởi không quốc gia nào có thể một mình xây dựng được chuỗi cung ứng bán dẫn có khả năng chống chịu cao.
Đạo luật CHIPS năm 2022 đã thành lập Quỹ An ninh Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Quốc tế (ITSI), với ngân sách 100 triệu USD mỗi năm đến năm 2027, nhằm nâng cao năng lực cho các đối tác chiến lược và đáng tin cậy, trong đó có Việt Nam. Việt Nam trở thành đối tác sau khi hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện năm 2023. Chương trình chính thức được khởi động tại Hà Nội vào tháng 9/2024.
Trong thời gian tôi làm Đại sứ, mục tiêu là đưa những chuyên môn hàng đầu của Mỹ đến Việt Nam để đào tạo nguồn nhân lực và xây dựng các thiết chế, tức những nền tảng có giá trị bền vững.
Như vậy Việt Nam đang ở vị thế rất thuận lợi để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng bán dẫn trong tương lai. Nhưng để đạt được điều đó cần có thời gian và, quan trọng hơn cả là nguồn nhân lực tài năng.
- Cụ thể, Mỹ đang hỗ trợ Việt Nam như thế nào để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng bán dẫn, từ đào tạo nhân lực đến xây dựng năng lực công nghệ?
Đó là lý do hỗ trợ của CHIPS tập trung đào tạo kỹ sư và giảng viên trong các lĩnh vực lắp ráp, kiểm thử và đóng gói bán dẫn. Chương trình được triển khai thông qua Đại học Bang Arizona, nằm ở trung tâm của một cụm công nghiệp bán dẫn đang phát triển tại Mỹ, phối hợp với các trường đại học hàng đầu Việt Nam, với trọng tâm lớn nhất là nâng cao năng lực.
Các doanh nghiệp bán dẫn Mỹ cũng đã tăng cường sự hiện diện tại đây. Intel, Amkor, Marvell, Qualcomm, Synopsys và nhiều doanh nghiệp khác đều có những lý do thương mại vững chắc để tiếp tục hoạt động và mở rộng đầu tư.
Tôi kỳ vọng xu hướng này sẽ tiếp diễn với sự hỗ trợ của cả hai chính phủ.
Các tổ chức tài chính Mỹ cũng có đầy đủ năng lực để tài trợ cho sự phát triển đó. Tuy nhiên, về căn bản, sự lớn mạnh dần lên của khu vực tư nhân, nguồn nhân lực giàu chuyên môn, cùng những thiết chế và chính sách được hoàn thiện mới chính là những năng lực bền vững của Việt Nam.
Cảm ơn ông về cuộc trao đổi!