Lịch sử đại học siêu cỡ - những mốc quan trọng
Năm 1800, trước yêu cầu ngày càng cao từ thực tiễn sản xuất nông nghiệp tại Mỹ, Hiệp hội Nông dân của nước này đề nghị các trường đại học truyền thống mở lớp đào tạo về kỹ thuật nông nghiệp. Nhưng với sứ mệnh ban đầu là trường đào tạo phục vụ tôn giáo, các trường truyền thống thời đó như Harvard, William và Mary, Yale đã từ chối đề nghị của Hiệp hội. Điều này kích thích Hiệp hội tự tìm cách mở ra những trường đại học cho riêng mình, có quy mô nhỏ hơn và trực tiếp phục vụ nhu cầu đào tạo nhân lực cho ngành. Cho đến năm 1890, toàn nước Mỹ đã có khoảng 250 trường hoạt động theo mô hình này với tổng số sinh viên khoảng hơn 80.000. Như vậy, lịch sử đại học siêu cỡ lại bắt nguồn từ chính những đại học cỡ nhỏ nhưng có chức năng tương tự như đại học siêu cỡ ngày nay, đó là đào tạo nghề thiết thực cho nhu cầu của xã hội.
Cũng trong khoảng thời gian trên, vào năm 1858, ở bên kia bờ Đại Tây Dương, người Anh thành lập trường Đại học London, là đại học đầu tiên không phụ thuộc vào giáo hội và nhắm đến đáp ứng nhu cầu học tập của phần đông người dân lao động nghèo. Đây cũng là một mốc quan trọng, đánh dấu một chức năng khác của đại học siêu cỡ sau này là phục vụ số đông 1.
Đến năm 1939, trước viễn cảnh leo thang ngày càng cao của Chiến tranh Thế giới thứ hai, chính phủ Pháp quyết định thành lập Trung tâm Quốc gia về Đào tạo từ xa (Centre national d’enseignement à distance - CNED) với mục tiêu đáp ứng nhu cầu học tập trong hoàn cảnh chiến tranh: linh hoạt và hiệu quả. Sau chiến tranh, CNED tiếp tục phát triển với cách thức hoạt động đúng như tên gọi của nó: đào tạo từ xa. Trước khi có internet, CNED tổ chức đào tạo qua radio, qua TV. Cho đến giữa những năm 1990, trường này bắt đầu có những khóa e-learning đầu tiên như cách làm hiện nay, mặc dù về công nghệ còn ở mức rất sơ khai. Ngày nay, CNED có khoảng hơn 300.000 học sinh, sinh viên, trong đó có khoảng 1/3 là sinh viên đại học.
Mô hình đại học đào tạo từ xa hay đào tạo mở này cũng được phát triển ở nhiều nước khác, trong đó nổi bật nhất có thể kể đến như Đại học mở Anh Quốc (thành lập năm 1969), Đại học mở Trung Quốc (1979), Đại học mở Hàn Quốc (1982) hay Đại học Quốc gia mở mang tên Indira Gandhi ở Ấn Độ (1985).
Năm 1944 là một mốc khác đáng ghi nhớ cho sự phát triển của đại học siêu cỡ. Tại thời điểm đó, trước viễn cảnh chiến tranh thế giới thứ hai sắp kết thúc, Chính phủ Mỹ ban hành đạo luật G.I.Bill, quy định việc hỗ trợ tài chính cho các quân nhân trở về sau cuộc chiến được đi học đại học. Tuy vậy, do quy mô của các đại học truyền thống tại Mỹ thời bấy giờ còn hạn chế, không đủ khả năng tiếp nhận hàng triệu lượt người học, Chính phủ Mỹ cho phép các trường tư vì lợi nhuận được phép tiếp nhận nhóm sinh viên đặc biệt này. Về khía cạnh đào tạo, các đại học tư vì lợi nhuận, vốn phát triển từ các trường nông nghiệp như đã nói ở trên, cũng phù hợp hơn với sinh viên lớn tuổi, có nhu cầu học nghề để đi làm hơn là các đại học nghiên cứu truyền thống.
Có thể nói, đạo luật G.I.Bill chính là đòn bẩy quan trọng, kích thích hai yếu tố quan trọng đối với các đại học siêu cỡ sau này là vì lợi nhuận 2 và học tập suốt đời (người lớn tuổi vẫn có cơ hội đi học đại học) 3.
Nói tóm lại, khác với đại học truyền thống nhắm vào mục tiêu phục vụ giáo hội (trước kia) và nghiên cứu và đào tạo tất cả các ngành, nghề (ngày nay), có quy mô vừa phải (khoảng 20.000 - 40.000), đại học siêu cỡ (mega university) có sứ mệnh đáp ứng mục tiêu học tập của đại chúng, học tập suốt đời, đào tạo ngành nghề thiết thực phục vụ trực tiếp nhu cầu xã hội. Mà vì đào tạo cho số đông, nên các đại học này có nhu cầu phát triển về mặt quy mô để giảm chi phí, đồng thời áp dụng công nghệ tiên tiến e-learning (vừa để giảm chi phí, lại vừa để phục vụ nhu cầu học tập đa dạng của sinh viên).
Một số đại học siêu cỡ lớn nhất hiện nay