Tuy giàu lợi thế tự nhiên - khí hậu phù hợp, nguồn thức ăn dồi dào, cùng tập quán chăn nuôi lâu đời của đồng bào tại chỗ - chăn nuôi gà ở Đắk Lắk nhiều năm qua vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Đàn gà của tỉnh chỉ đạt khoảng 13,68 triệu con, chiếm 3,27% tổng đàn của cả nước. Trong đó, giống gà bản địa - dù sở hữu ưu thế thích nghi sinh thái và chất lượng thịt thơm ngon - vẫn chủ yếu được chăn nuôi nhỏ lẻ, thiếu dữ liệu, thiếu định hướng và chưa được khai thác theo hướng hàng hóa, chưa xây dựng được thương hiệu.
Giống gà bản địa ở Đắk Lắk không có tên gọi riêng nhưng được người dân thuần dưỡng từ lâu đời, có khả năng tự kiếm ăn tốt, khéo đẻ và nuôi con, thịt chắc, da vàng, ít mỡ, thớ thịt mịn, được thị trường ưa chuộng.
Nhằm điều tra tình hình chăn nuôi tại các buôn làng, đánh giá nguồn giống, phương thức nuôi, đặc điểm sinh học, phân bố, quy mô và những khó khăn thực tế của người dân, Trường Đại học Tây Nguyên phối hợp với HTX Dịch vụ Nông nghiệp và hỗ trợ cộng đồng Tây Nguyên triển khai đề tài "Xác định nguồn gen và phát triển sản xuất giống gà của đồng bào tại chỗ tỉnh Đắk Lắk".
Điều tra trên 120 hộ cho thấy, 80,83% hộ nuôi theo hình thức chăn thả tự nhiên, 15,83% bán chăn thả và chỉ 3,33% nuôi nhốt. Bình quân mỗi hộ chỉ nuôi 18–19 con, thấp hơn nhiều so với một số tỉnh khác, thường có quy mô từ 34 đến hơn 200 con/hộ. Nguồn giống chủ yếu tự lưu truyền trong nông hộ (75,83%), trao đổi trong buôn (17,5%), gần như không có tiếp cận nguồn giống mới. Thức ăn dựa vào tự nhiên hoặc tận dụng thóc, ngô, cám gạo (96,67%), gần như không sử dụng thức ăn công nghiệp. Công tác thú y rất hạn chế, chỉ 17,5% hộ có tiêm phòng, còn lại phó mặc cho sức đề kháng tự nhiên của vật nuôi. Tỷ lệ mắc bệnh cao - tới 88,62% số hộ khảo sát, chủ yếu vào mùa mưa và thời điểm giao mùa.
Những hạn chế này kéo theo nhiều hệ lụy như khó phòng dịch, thiếu kỹ thuật chăm sóc, thiếu con giống chất lượng cao, chăn nuôi chỉ mang tính tự cung tự cấp, khó tạo hàng hóa. Bên cạnh đó, do lai tạp nhiều năm, dòng gà nguyên thủy đang thu hẹp đáng kể, thậm chí mất dần những dấu hiệu di truyền ban đầu như chỏm lông trên đầu.
![]() |
Mô hình nuôi thử nghiệm gà bản địa. Ảnh: NNC |
Từ thực trạng trên, nhóm nghiên cứu đã tiến hành chọn lọc, mô tả đặc điểm sinh học, ngoại hình, sinh trưởng, sinh sản và chất lượng thịt; đồng thời xây dựng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng bệnh. Đặc biệt, mô hình nhân giống tại phường Khánh Xuân (TP Buôn Ma Thuột) đã chứng minh hiệu quả bước đầu, với tỷ lệ nuôi sống đến 20 tuần đạt 92,5%, năng suất trứng đến 73 tuần đạt 93,04 quả/con, tỷ lệ trứng có phôi đạt 92,94%, tỷ lệ ấp nở/trứng có phôi đạt 78,18%. Gà trống ở 20 tuần nặng khoảng 1,3 kg và gà mái nặng khoảng 1kg, năng suất thịt tương đương các giống gà nội ở nhiều địa phương khác.
Nhóm nghiên cứu cho rằng để khai thác hiệu quả nguồn gen gà bản địa quý ở Đắk Lắk, cần đầu tư đồng bộ vào chọn lọc, nhân thuần và sản xuất con giống chất lượng cao, hình thành đàn hạt nhân làm cơ sở nhân rộng với năng suất và chất lượng ổn định. Bên cạnh đó, cần ưu tiên xây dựng quy trình chăn nuôi an toàn sinh học, chăm sóc, nuôi dưỡng hợp lý và chủ động phòng bệnh vì gà rất dễ nhiễm và lây lan dịch bệnh, có thể chết nhanh và hàng loạt nếu không được kiểm soát tốt. Nếu được hỗ trợ về kỹ thuật, thú y cơ sở, phát triển cơ sở giống và hướng dẫn phối trộn thức ăn từ nguồn nguyên liệu sẵn có, giống gà bản địa của Đắk Lắk hoàn toàn có thể trở thành sản phẩm đặc sản địa phương, góp phần giảm nghèo cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Bài đăng KH&PT số 1367 (số 43/2025)
Ngọc Hân
