Những năm trước đây, yêu cầu cơ bản cho chủ nhiệm đề tài (CNĐT) thuộc khối KHXH&NV bao gồm:
(1) có học vị tiến sĩ hoặc Phó giáo sư, Giáo sư;
(2) có ba bài báo chuyên ngành phù hợp được công bố trên các tạp chí chuyên ngành quốc gia từ năm năm trở lại đây;
(3) có một bài công bố quốc tế hoặc một chuyên luận đã xuất bản.
Đến năm 2015, tiêu chí thứ nhất vẫn được giữ nguyên, tiêu chí thứ hai đã bị loại; tiêu chí thứ ba là "kết quả nghiên cứu chuyên ngành phù hợp được công bố trên tạp chí quốc tế có uy tín trong thời gian năm năm tính đến thời điểm nộp hồ sơ". Như vậy, tiêu chí đầu vào có thay đổi: Quỹ chỉ chấp nhận các CNĐT có công bố quốc tế.
Đẩy mạnh công bố quốc tế là một chủ trương đúng đắn, không chỉ cho các ngành khoa học tự nhiên (KHTN) mà đối với cả các ngành thuộc khối khoa học xã hội (KHXH) và khối khoa học nhân văn (KHNV). Nhưng việc thay đổi đột ngột tiêu chí tuyển chọn như vậy có lẽ chưa hợp lý. Quyết định này được đưa ra do Quỹ chưa thực sự hiểu rõ hai điều (1) những đặc thù của khối KHXH, nhất là khối KHNV và (2) thế nào là nghiên cứu cơ bản trong ngành này.
| Phần lớn các tri thức của KHXH ở Việt Nam và về Việt Nam thì ngược lại, nó có tính đặc định, có tính khu biệt, có tính lịch sử, có tính chính trị đặc thù. Đặc thù nhưng phải trên nền tảng tri thức chung của nhân loại về con người. Ấy mới là cái khó! |
Một bài nghiên cứu trong KHTN đăng được trên một tạp chí quốc tế đương nhiên là một đóng góp tri thức mới cho khoa học; còn trong KHNV có khi đó chỉ là một bài giới thiệu văn hóa (dĩ nhiên còn tùy thuộc vào chuyên ngành, khả năng của người viết và tạp chí đăng tải)! Chúng tôi từng biết, có một số người được mọi người gọi là nhà văn hóa, nhà nọ nhà kia, tuy có bài báo công bố quốc tế hẳn hoi, có sách in bằng tiếng nước ngoài hẳn hoi, nhưng đọc các "công trình" ấy, người ta chỉ thấy một con người đang đem những tri thức cũ kĩ về văn hóa Việt Nam đi diễn giảng với thế giới, chứ ở đó hầu như không thấy cái mới. Chúng tôi cũng từng tranh luận với một số đồng nghiệp về việc phải "hạ tông độ chuyên sâu" để có thể có công bố quốc tế. Vì có bạn cho rằng, phải viết thế nào để cho người ta hiểu mình, chứ viết vào một vấn đề quá mới, quá sâu, quá hẹp họ chưa có phông kiến thức tổng quát về vấn đề đó thì biên tập cũng không nổi, nữa là cho đăng duyệt. Hoặc ngược lại, viết một vấn đề quá cũ, quá nông, quá lạc hậu, so với thế giới thì hòa nhập làm sao? Kết quả của buổi tranh luận là, với đối tượng mà họ chưa hiểu mình thì tốt nhất nên viết tổng thuật, trong đó lồng những kết quả mới của mình vào đó2, với đối tượng họ đã quá hiểu mình, họ đã đi trước mình, thì cố gắng bắt kịp yêu cầu của họ.
Mặt khác, mỗi tạp chí quốc tế lại là một sân chơi riêng, có tiêu chuẩn riêng, có đối tượng riêng, và có "gu riêng". Tiêu chuẩn và đối tượng riêng thì tạp chí nào cũng có, nhưng "cái gu" mới là điều đáng thách thức. Có những người "ngửi mùi" cái là biết ngay tạp chí nào thích gì, viết kiểu này thì sẽ được đăng ở tạp chí này, viết kiểu khác sẽ được đăng ở tạp chí khác. Đó là một sự khéo léo rất chuyên nghiệp, hay nói cách khác là sự chuyên nghiệp khéo léo! Chủ yếu là phải biết xoay xở với các từ khóa và thuật ngữ khoa học sao cho phù hợp với cái mà người ta quan tâm, hoặc đang hứng thú. Ví dụ như thế này, trong bối cảnh biển Đông dậy sóng trong mấy năm vừa qua, cộng thêm chính sách"mở cửa bật đèn xanh" của nhà nước cho lĩnh vực này, nên các công bố trong nước về biển Đông được dịp "trăm hoa đua nở". Nhưng hiện chưa có số liệu nào thống kê xem có bao nhiêu bài được đăng trên tạp chí quốc tế? Liệu có đăng nổi không (nhất là đối với các tạp chí của Trung Quốc) khi có quá nhiều áp lực về chính trị, cả từ trong lẫn ngoài? Như một đặc thù nghề nghiệp, những người hoạt động KHXH&NV luôn là nạn nhân của chính đối tượng mình nghiên cứu. Quỹ phải xác định rằng, có những chuyên ngành khoa học mang đặc thù Việt Nam, chưa thể nào có những công bố quốc tế ngay được. Sự nhạy cảm của vấn đề khoa học sẽ khiến chúng ta bị loại khỏi diễn đàn y như cô hoa hậu Việt Nam mang Hoàng Sa, Trường Sa vào slide giới thiệu bản thân! Song, nói đi cũng phải nói lại, phần lớn các nhà nghiên cứu thuộc khối nhân văn (NV), ngoài các lý do đặc thù như trên, thì cũng thực sự rất lạc hậu với thế giới, nên việc hội nhập hay nâng tầm lên quốc tế thực sự là công việc nan giải.
| Một thực tế không thể chối cãi, những chuyên luận dỏm, những bài nghiên cứu dỏm, các sản phẩm "đối phó hội đồng", qua các thao tác cắt dán, xào xáo, cùng với lối làm việc duy tình nhạy bén của người Việt khiến cho thực trạng vàng thau lẫn lộn trở nên phổ biến hơn bao giờ hết. Chẳng tin được ở người mình thì đành chuyển sang tin ở người ngoài. |
Thế nhưng, như một thực tế không thể chối cãi, trong ngành KHXH&NV, những chuyên luận dỏm, những bài nghiên cứu dỏm, các sản phẩm "đối phó hội đồng", qua các thao tác cắt dán, xào xáo, cùng với lối làm việc duy tình quyền biến của người Việt khiến cho thực trạng vàng thau lẫn lộn trở nên phổ biến hơn bao giờ hết. Chẳng tin được ở người mình thì đành chuyển sang tin ở người ngoài. Quyết định "nâng cao tiêu chí sàn" của Nafosted không phải là không có nguyên lý. Bởi nếu đã là một nhà nghiên cứu chuyên nghiệp, chuyên luận còn viết được thì huống hồ gì là một bài nghiên cứu quốc tế!
Chú thích
1 Dĩ nhiên, cũng cần có khoảng mở cho việc nghiên cứu khu vực học, quốc tế học và các nước khác có liên quan. Nhưng kể cả nghiên cứu Khu vực học hay Quốc tế học thì vẫn phải lấy Việt Nam làm trung tâm để quy chiếu. Ngoài Trung Quốc học- phạm vi mà người Việt bắt buộc phải có những phát kiến riêng để có thể nâng cao sức đề kháng văn hóa và tự cường dân tộc, thì các ngành khác khó có thể vượt được các học giả bản quốc!
2 Xin lưu ý, viết nghiên cứu tổng thuật, tuy không phải lúc nào cũng bắt buộc phải có cái mới, nhưng phải là một người nghiên cứu có tầm rất cao (cả về lý luận, lẫn thực tiễn). Ở Việt Nam rất hiếm các bài viết tổng thuật (đáp ứng đầy đủ các tiêu chí của nó) mà chủ yếu là lược thuật giống như các bài tập viết về "lịch sử vấn đề" trong các luận văn thạc sĩ và tiến sĩ.
3 Theo thông lệ quốc tế, tối thiểu độ dài là 8.000 hoặc 10.000 chữ (tùy từng tạp chí). Ở Việt Nam, rất hiếm tạp chí quốc gia chấp nhận con số tối thiểu này. Tích cực lắm là họ áp dụng các con số đó làm tiêu chuẩn tối đa cho một số ít bài (cho phù hợp với số lượng trang ấn bản thực tế).
4 Kiểu như Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển (Huế)- một tạp chí địa phương nhưng "chơi" theo tiêu chí quốc tế (chấp nhận đăng bài khảo cứu công phu vô điều kiện về số trang). Hoặc giả họ dành cả một hoặc hai số tạp chí chỉ để đăng một nghiên cứu.
5 Tôi nhấn mạnh, một chuyên luận giải quyết một luận đề khoa học, sẽ khác rất nhiều với một cuốn sách viết không có thao tác, và không có đối tượng khoa học chuyên biệt.
6 Xin lưu ý, tự điển- từ điển trước nay không nằm trong khung khổ của cái được gọi là "chuyên luận". Nhưng, những kiểu công trình như thế này, làm việc khổ công hơn rất nhiều so với làm lý luận. Bởi, cái hệ thống lý luận mà tác giả sử dụng, hay sáng tạo không nằm hiển ngôn trên các trang viết, mà đã được xử lý tan nhuyễn trong toàn bộ công trình, từ cơ cấu vi mô của từng mục từ đến cấu trúc vĩ mô của cả cuốn từ điển. Rất tiếc Nafosted không đầu tư hạng mục khoa học này, cũng như nhiều hạng mục nghiên cứu cơ bản khác.
7 Trường hợp các học giả có chuyên luận công bố quốc tế kiểu như TS Nguyễn Nam (Thông tín viên của Harvard- Yanjing) hay PGS. TS. Hoàng Anh Tuấn (Khoa Sử, ĐH KHXH&NV-HN) là rất hiếm! Nhưng ở đây cũng cần nêu ra một đặc thù của xuất bản phẩm khoa học quốc tế, rằng: quy trình biên tập một cuốn chuyên khảo (sách) lại đơn giản hơn so với quy trình biên tập một bài tạp chí.