Vì sao có những vùng đất hàng trăm năm nay vẫn liên tục được xem là "đất học"? Liệu truyền thống khoa bảng chỉ còn là niềm tự hào trong lịch sử, hay vẫn đang âm thầm ảnh hưởng đến cơ hội học tập, việc làm và thu nhập của người dân ngày nay?
Đó là câu hỏi được TS Hoàng Xuân Trung (Đại học Thương mại) và TS Nguyễn Việt Cường (Trường Quốc tế, Đại học Quốc gia Hà Nội) tìm lời giải trong nghiên cứu Tác động lâu dài của vốn nhân lực thời phong kiến: Góc nhìn từ Việt Nam.
Để tìm ra câu trả lời, nhóm nghiên cứu đã thu thập dữ liệu của gần 20,000 người đỗ các kỳ thi Nho học từ năm 1075 đến 1919, bao gồm 17.061 cử nhân, tú tài và 2.895 tiến sĩ, rồi xác định quê quán của từng người để tính "mật độ nhân lực tinh hoa" theo từng huyện. Sau đó, các tác giả kết hợp dữ liệu này với Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020 nhằm xem xét liệu dấu ấn của nền khoa cử còn thể hiện trong giáo dục, việc làm và thu nhập ngày nay hay không.
Một lớp học tại tư gia ở Việt Nam vào khoảng năm 1895. Ảnh: Paul Armand Rousseau/Wikipedia
Thời phong kiến, việc "lều chõng đi thi" vô cùng vất vả nên những người sống càng gần trường thi càng có cơ hội dự thi và đỗ đạt cao hơn. Dựa trên đặc điểm lịch sử này, nhóm nghiên cứu sử dụng khoảng cách từ mỗi huyện đến trường thi Hương gần nhất làm "biến công cụ" nhằm xác định rõ hơn mối quan hệ nhân quả giữa truyền thống khoa bảng với giáo dục, việc làm và thu nhập ngày nay.
Kết quả hồi quy cho thấy, những huyện ở xa trường thi có mật độ nhân lực tinh hoa thấp hơn rõ rệt. Nơi nào đặt trường thi hoặc gần trường thi thì khả năng có nhiều người đỗ đạt hơn.
Dấu ấn "mật độ tinh hoa" lên học vấn sau này
Nhìn chung, những địa phương có truyền thống khoa bảng dày đặc hơn trong quá khứ vẫn duy trì lợi thế về giáo dục.
Để đánh giá tác động của giáo dục khoa bảng lên số năm đi học, thu nhập bình quân đầu người, các tác giả xem xét "mật độ tinh hoa" ảnh hưởng như thế nào đến các yếu tố số năm đi học, thu nhập bình quân đầu người và mức lương hằng tháng. Mật độ tinh hoa (Elite density) = mật độ người đỗ các kỳ thi Nho học (tú tài, cử nhân, tiến sĩ) sinh ra tại một huyện.
Kết quả cho thấy, mật độ nhân lực tinh hoa có tác động đến số năm đi học và thu nhập bình quân ngày nay, ở mức tác động trung bình. Còn tác động của mật độ tinh hoa đến mức lương hàng tháng chỉ ở mức nhỏ.
Nghiên cứu cũng ghi nhận những huyện có mật độ tinh hoa cao thời xưa thường có chi tiêu bình quân đầu người cao hơn, tỷ lệ nghèo, khoảng cách nghèo và mức độ nghèo đói nghiêm trọng thấp hơn.
Phân bố số lượng nhân tài khoa cử theo các huyện và vị trí các trường thi trong giai đoạn 1075–1919. Nguồn thông tin đồ họa: doi.org/10.1016/j.jebo.2025.107006
Các tác giả lý giải tác động lâu dài của truyền thống khoa bảng đến học vấn và thu nhập sau này là do khoa bảng đã định hình được chuẩn mực hiếu học. Đơn cử, tên tuổi các vị tiến sĩ thường được lưu trên bia đá, trong gia phả hoặc tại đình làng, những câu chuyện về tổ tiên đỗ đạt và tên tuổi của các vị hiền tài này dần dần đã trở thành niềm tự hào trong cộng đồng, góp phần duy trì động lực học tập của nhiều thế hệ tiếp nối và định hình các chuẩn mực xã hội coi trọng việc học.
Để kiểm chứng giả thuyết này, nhóm nghiên cứu không chỉ nhìn vào kết quả học tập mà còn xem các gia đình ngày nay đã đầu tư cho con cái ra sao.
Tác động vào mức độ đầu tư cho con cái đi học
Kết quả cho thấy, ở những địa phương từng có nhiều người đỗ đạt, các hộ gia đình cũng chi tiêu nhiều hơn cho giáo dục, đặc biệt là học phí và học thêm, trong khi đó việc chi tiêu cho chăm sóc sức khỏe hay số lần khám chữa bệnh không thay đổi. Điều này cho thấy ảnh hưởng của truyền thống khoa bảng tập trung vào việc đầu tư cho học tập thay vì phản ánh xu hướng chi tiêu nhiều hơn nói chung.
Mặt khác, để đánh giá hiệu ứng đến từ môi trường sống, nhóm tác giả còn thực hiện một đo lường đối với những người mới chuyển đến sinh sống tại địa phương trong vòng 5 năm gần nhất. Kết quả lại không cho thấy ảnh hưởng đáng kể nào của mật độ nhân lực tinh hoa ở nơi cư trú đối với trình độ học vấn hay việc làm của những người này. Theo các tác giả, kết quả này củng cố giả thuyết rằng những giá trị về giáo dục chủ yếu được hình thành và truyền qua gia đình, cộng đồng và quá trình lớn lên tại địa phương chứ không đơn thuần do nơi ở hiện tại.
Điều đáng chú ý là ngay cả những biến cố dữ dội của lịch sử cũng không làm đứt gãy quá trình truyền thừa ấy. Khi đưa thêm dữ liệu về mật độ bom đạn trong giai đoạn 1965 - 1975 vào mô hình, nhóm nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng cho thấy chiến tranh làm suy yếu mối liên hệ giữa truyền thống khoa bảng với giáo dục, việc làm hay thu nhập ngày nay.
Ngoài truyền thống hiếu học, nhóm nghiên cứu cũng kiểm tra một giả thuyết khác về việc những người đỗ đạt sau khi trở thành quan lại đã đầu tư xây dựng quê hương và để lại hệ thống hạ tầng tốt hơn cho các thế hệ sau - yếu tố góp phần tạo điều kiện cho giáo dục, kinh tế phát triển.
Tuy nhiên, khi phân tích nhiều chỉ số ở cấp xã như đường giao thông, chợ, trường học, khoảng cách tới thị trấn, bưu điện hay ngân hàng, nhóm nghiên cứu hầu như không tìm thấy bằng chứng về tác động lâu dài của mật độ nhân lực tinh hoa đối với cơ sở hạ tầng nông thôn. Nhóm nghiên cứu cho rằng, hai cuộc chiến tranh lớn trong thế kỷ XX, đặc biệt là Chiến tranh Đông Dương và Chiến tranh Việt Nam, có thể đã phá hủy phần lớn hạ tầng được xây dựng trước đó và làm lu mờ khác biệt giữa các địa phương.
Từ các phát hiện trên, nhóm nghiên cứu nhấn mạnh đến vai trò đầu tư vào vốn nhân lực trong chính sách giáo dục hiện nay và đề xuất, cần xây dựng chính sách phát triển tài năng, cung cấp hỗ trợ tài chính cho sinh viên có hoàn cảnh khó khăn và mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục để không chỉ tạo ra lợi ích trong ngắn hạn mà còn có thể để lại những tác động lâu dài cho thế hệ tương lai.
Hệ thống thi cử Nho học được tổ chức ở Việt Nam từ năm 1075 đến năm 1919, có bốn cấp độ thi từ thấp đến cao bao gồm: Khảo Hạch, Thi Hương, Thi Hội, Thi Đình. Những người đỗ cao trong kỳ Thi Hương được gọi là Tú Tài và Cử Nhân (hoặc Hương Cống), sau đó có thể tiếp tục tham gia Thi Hội, và nếu đỗ cao trong kỳ Thi Hội sẽ tiếp tục được Thi Đình. Những người đỗ cao trong kỳ Thi Đình được gọi là Tiến Sĩ. Kết quả này thường được dùng để lựa chọn quan lại nhà nước và nhân sĩ địa phương.
---
Tài liệu tham khảo:
Trung Xuan Hoang, Cuong Viet Nguyen. The long-lasting effect of feudal human capital: Insights from Vietnam. Journal of Economic Behavior & Organization. 2025. https://doi.org/10.1016/j.jebo.2025.107006