![]() |
Phòng thí nghiệm ĐHQG TPHCM. Nguồn: ĐHQG TPHCM |
Một trong những vấn đề được quan tâm hiện nay là việc chi đầu tư cho KH&CN, GD&ĐT của dự án Luật Ngân sách nhà nước (sửa đổi), khi bỏ quy định tại điểm b khoản 4 Điều 19 Luật Ngân sách nhà nước 2015 "Tổng số chi ngân sách nhà nước, bao gồm chi ngân sách Trung ương và chi ngân sách địa phương, chi tiết theo chi đầu tư phát triển, chi dự trữ quốc gia, chi thường xuyên, chi trả nợ lãi, chi viện trợ, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính, dự phòng ngân sách. Trong chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên có mức chi cụ thể cho các lĩnh vực GD&ĐT và dạy nghề; KH&CN".
Trong cuộc thảo luận tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV ngày 26/5/2025, nhiều đại biểu đã tỏ ra băn khoăn về việc dự thảo luật bỏ quy định này. Đại biểu Nguyễn Trường Giang (Đoàn ĐBQH tỉnh) Đắk Nông, được báo Bảo vệ pháp luật dẫn lời, đã trao đổi "Tôi cho rằng Quốc hội đã quyết định ngân sách là Quốc hội phải quyết rất cụ thể. GD&ĐT ít nhất phải 20%; KH&CN theo Nghị quyết 57, Nghị quyết 193 và Quốc hội cũng vừa mới bổ sung dự toán ngân sách nhà nước lên ít nhất 3% thì phải là 3% chứ không có chuyện cả hai lĩnh vực này gộp lại ít nhất 23%".
Giải thích về việc bỏ quy định này, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng cho biết, dự thảo hướng đến việc quy định Quốc hội quyết định tổng thể về cơ cấu lớn, dự toán ngân sách nhà nước còn việc phân bổ ngân sách chi tiết, cụ thể giao cho Thủ tướng Chính phủ quyết định, bao gồm KH&CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Con số 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho phát triển KH&CN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và tăng dần theo yêu cầu phát triển là một tín hiệu đáng mừng, tuy nhiên một số vấn đề cần được xem xét thấu đáo như: Đâu là cơ cấu phân bổ ngân sách một cách hợp lý cho các hoạt động KH&CN? Đâu là tỉ lệ phân bổ đầu tư hài hòa giữa khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng? |
Cuộc thảo luận về dự thảo Luật Ngân sách nhà nước ở Quốc hội cho thấy, việc đầu tư ngân sách cho KH&CN trong bối cảnh hiện nay đang được quan tâm của toàn xã hội. Trước đó, tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc quán triệt, triển khai thi hành các luật, nghị quyết vừa được thông qua tại Kỳ họp bất thường lần thứ 9 Quốc hội khóa XV vào ngày 7/3/2025, Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng nêu rõ, chính phủ dự kiến sẽ dành khoảng gần 10.000 tỉ đồng từ nguồn tăng thu, tiết kiệm chi để đáp ứng yêu cầu bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách năm nay cho KH&CN.
Có lẽ, chưa bao giờ, KH&CN lại được nhìn nhận như một nguồn lực không thể thiếu cho phát triển đất nước và cũng chưa bao giờ, KH&CN có được cơ hội thể hiện vai trò quan trọng của mình như vậy. Tuy nhiên, thuận lợi trong việc đón nhận một nguồn lực tài chính quan trọng cũng làm dấy lên một vấn đề thiết thực: làm thế nào để đầu tư thật hiệu quả nguồn lực này? Làm thế nào để chi một cách hợp lý nguồn lực này cho KH&CN, đổi mới sáng tạo?
Khoa học có thoát cảnh "ăn đong"?
Từ nhiều năm này, những câu chuyện về việc nhà khoa học phải gồng gánh tìm đủ mọi nguồn lực để không đứt đoạn công việc nghiên cứu, hoặc chạy xuôi chạy ngược tìm nơi thực hiện thí nghiệm hoặc các phép đo lường chính xác kết quả dự án... đã trở nên quen thuộc. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là nguồn lực đầu tư từ ngân sách nhà nước còn hạn hẹp. Hằng năm, theo quy định, ngành KH&CN được trao 2% tổng chi ngân sách, tuy nhiên trong những năm qua, kinh phí đầu tư từ ngân sách nhà nước cho KH&CN không những chưa đạt tỷ lệ tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước như theo yêu cầu của Nghị quyết 20-NQ/TW và Luật KH&CN mà còn đạt tỷ lệ rất thấp so với GDP. Về thực trạng này, Cổng thông tin điện tử Kiểm toán nhà nước vào tháng 5/2024 từng dẫn lời ông Hoàng Văn Lương, Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước chuyên ngành III, người chủ trì cuộc Kiểm toán chuyên đề việc quản lý, sử dụng kinh phí đầu tư cho lĩnh vực KH&CN giai đoạn 2020-2022: Kết quả kiểm toán ghi nhận, dự toán chi ngân sách nhà nước bố trí cho KH&CN trung bình giai đoạn 2020-2022 là 17.494 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,01% tổng chi ngân sách nhà nước, đạt 0,2% GDP.
Kiểm toán nhà nước cũng nêu rõ một thực tại là mức đầu tư cho KH&CN của Việt Nam thấp hơn nhiều so với mức bình quân của thế giới. Theo số liệu của UNESCO, tổng chi đầu tư cho R&D bình quân của thế giới năm 2021 so với GDP là 1,93%; các nước Đông Nam Á là 1,07%; một số quốc gia châu Á có mức chi cho KH&CN cao so với mức trung bình của thế giới là Hàn Quốc 4,92% (đứng thứ 2 thế giới); Nhật Bản 3,2%; Trung Quốc 2,4%. Để so sánh mở rộng thêm, có thể thấy rằng, do quy mô của nền kinh tế lớn nên tổng mức đầu tư cho KH&CN ở các quốc gia này rất lớn. Theo báo cáo của Hội đồng Khoa học Quốc gia trực thuộc Trung tâm Thống kê Khoa học và Kỹ thuật Quốc gia Mỹ (NCSES), năm 2021, Mỹ đứng đầu thế giới về đầu tư cho khoa học, với 806 tỉ USD, tiếp theo là Trung Quốc 668 tỉ USD, Nhật Bản 177 tỉ USD, Đức 154 tỉ USD và Hàn Quốc 120 tỉ USD.
![]() |
Bảng thống kê tỉ lệ chi cho KH&CN từ ngân sách nhà nước giai đoạn 2016-2020. Nguồn: Bộ Tài chính |
Với mức đầu tư thấp, KH&CN Việt Nam trong những năm qua luôn sống trong cảnh "giật gấu vá vai", "ăn đong" để tồn tại. Chúng ta có thể hình dung, với một nguồn lực ít ỏi, không đảm bảo được việc thực hiện đầy đủ về đổi mới cơ chế đầu tư, đổi mới cơ chế tài chính như Luật KH&CN quy định, cộng thêm việc không thể áp dụng một số chính sách đãi ngộ nhà khoa học, KH&CN Việt Nam không thể tạo ra những kết quả đột phá như kỳ vọng.
Do đó, Nghị quyết 57-NQ/TW, nghị quyết đột phá phát triển KH&CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cũng như các văn bản quan trọng tiếp theo của chính phủ và Quốc hội, đã tháo bỏ những thách thức đó: "Kinh phí chi cho R&D đạt 2% GDP, trong đó kinh phí từ xã hội chiếm hơn 60%; bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho phát triển KH&CN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và tăng dần theo yêu cầu phát triển".
Với người làm khoa học, đây là một hiện thực quá đẹp. Bầu sữa ngân sách đảm bảo cho hoạt động R&D ở Việt Nam sẽ rót đủ nhằm tạo điều kiện cho họ được làm việc trong một môi trường tương đối liên tục và liền mạch. Việc người đứng đầu chính phủ nhấn mạnh vào dự kiến ngân sách mà chính phủ sẽ phân bổ là khoảng gần 10.000 tỉ đồng khiến các nhà khoa học thêm phần hy vọng vào việc triển khai những dự án nghiên cứu mới ở quy mô lớn hơn, hứa hẹn có nhiều kết quả tốt hơn.
Tuy nhiên, con số 3% tổng chi ngân sách cũng đặt ra cho ngành KH&CN một vấn đề lớn: sẽ phân bổ ngân sách như thế nào cho các hoạt động KH&CN? Tỉ lệ được hưởng đầu tư của khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng như thế nào? Đây là một câu hỏi không dễ trả lời.
Theo nhận xét của Kiểm toán nhà nước, tuy mức đầu tư cho KH&CN còn thấp so với yêu cầu, chưa đạt tỷ lệ tối thiểu theo quy định, nhưng thực tế lại cho thấy, khả năng hấp thụ vốn đầu tư của ngành KH&CN chưa tương xứng. Hàng năm, số hủy dự toán, số nộp trả ngân sách nhà nước, chuyển nguồn ngân sách sang năm sau lớn chủ yếu do cơ chế chính sách có nhiều điểm nghẽn. |
Chi thế nào cho đúng?
Việc đi tìm câu trả lời câu hỏi này xác định được cấu trúc phát triển của nền khoa học và mục tiêu dài hạn cho nền khoa học ấy. Trong khuôn khổ hội thảo "Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia: Những bài học kinh nghiệm" do Tia Sáng tổ chức vào ngày 9/5/2025, GS. TS Hồ Tú Bảo (Phòng thí nghiệm Khoa học dữ liệu VIASM), một chuyên gia về khoa học dữ liệu đã có nhiều năm sống và làm việc tại Nhật Bản, nhận xét "Ở hầu hết các quốc gia phát triển, cấu trúc chi khoa học (R&D) thường là kinh phí cho khoa học ứng dụng và khoa học cơ bản (R) vào khoảng 40% còn chi cho phát triển (D) là trên 60%. Tất cả tỉ lệ đầu tư đều phụ thuộc vào mục tiêu chiến lược và quy định của phát triển. Tuy nhiên ở Việt Nam thì chẳng có cấu trúc ấy. Tất cả những điều đó chúng ta đều chưa rõ, chúng ta làm chưa chính xác".
Hệ quả của việc không rõ cấu trúc KH&CN, không rõ tỉ lệ giữa khoa học cơ bản, ứng dụng và phát triển là tỉ lệ chi cho các hoạt động này cũng không thực sự "chuyên nghiệp" hoặc có thể nghiêng về "tùy hứng chi". Và đến lượt mình, tỉ lệ chi cũng ảnh hưởng đến kết quả đầu ra. "Năm 2023, Việt Nam có 315 patent thì Hàn Quốc có 173.000 patent, nghĩa là gấp 427 lần", giáo sư Hồ Tú Bảo nêu ví dụ về sự khác biệt trong hệ quả gặt hái từ chính sách đầu tư cho KH&CN cũng như chính sách khuyến khích đăng ký sở hữu trí tuệ sản phẩm nghiên cứu.
Dĩ nhiên, việc chi cụ thể hơn cho khoa học cơ bản, khoa học ứng dụng hay phát triển của mỗi quốc gia thường khác nhau, tùy theo chiến lược ở từng giai đoạn phát triển. Ví dụ, Mỹ thường có những điều chỉnh nhỏ trong tỉ lệ chi R&D qua từng năm. Theo số liệu của NCSES, vào năm 2018, tổng đầu tư cho R&D của Mỹ là 580 tỉ USD, trong đó 96,5 tỉ USD cho nghiên cứu khoa học cơ bản, chiếm 16,6%; 115 tỉ USD cho nghiên cứu ứng dụng, chiếm 19,8%; và 368,5 tỉ USD cho phát triển, chiếm 63,5%. Tuy nhiên vào năm 2021, Mỹ chỉ đầu tư 15%trong tổng ngân sách cho R&D vào khoa học cơ bản, và vào năm 2024, đề xuất ngân sách của Chính phủ Mỹ là tăng kinh phí cho nghiên cứu cơ bản thêm 1 tỷ USD (tăng 2,2%), nghiên cứu ứng dụng thêm 2,5 tỷ USD (5%) và phát triển thêm 5,9 tỷ USD (6,2%), đồng thời giảm 547 triệu USD (7,5%) cho cơ sở hạ tầng và thiết bị R&D.
Tỉ lệ chi cho R&D của Trung Quốc cũng có nhiều điểm khác biệt với Mỹ, đặc biệt về mức dành cho khoa học cơ bản. Theo một báo cáo của Viện Thống kê UNESCO, năm 2015, Trung Quốc dành 5,1% tổng chi cho R&D (dẫu tăng 4,8% trong vòng một thập niên nhưng thấp hơn năm con số 6% của năm 2004), 77% dành cho phát triển (năm 2004 là 74%). Mặc dù Trung Quốc từng đặt mục tiêu gia tăng tỉ lệ đầu tư cho khoa học cơ bản lên tới 8% vào năm 2025 như Kế hoạch năm năm lần thứ 14 nhưng theo đánh giá vào tháng 3/2024 trên Hoàn cầu thời báo của ông Vương Di Phương, Viện trưởng Viện Vật lý năng lượng cao (IHEP) thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc (CAS), cần phải nhiều nỗ lực chính sách hơn mới có thể đạt được mức 8%. Điều này cũng tạo ra một khoảng trống đáng kể so với Mỹ, nhất là khi Trung Quốc còn thiếu đầu tư vào các cơ sở hạ tầng lớn cho khoa học về vật lý hạt, vật lý hạt nhân, thiên văn học... Hoàn cầu thời báo cũng dẫn số liệu từ Cục Thống kê Quốc gia, cho biết vào năm 2022, đầu tư của Trung Quốc vào khoa học cơ bản mới chiếm khoảng 6,57 % đầu tư cho R&D còn Tân Hoa Xã, cũng dẫn số liệu của Cục thống kê Quốc gia, cho thấy tỉ lệ đầu tư cho khoa học cơ bản năm 2024 chiếm 6,91 %.
Các nhà khoa học mong muốn có những quy định cụ thể mới về khung quản lý tài chính và hành chính được xây dựng theo tinh thần của Nghị quyết 57 cũng như các văn bản quan trọng khác, đảm bảo yêu cầu "chi đúng, chi đủ và chi hiệu quả" nguồn lực đầu tư của nhà nước. |
Tuy có khác biệt so với Mỹ nhưng mức chi cho R&D của Trung Quốc cũng linh hoạt lên xuống theo từng năm, tùy theo nhu cầu phát triển. Theo số liệu cập nhật tháng 10/2024 của Cục Thống kê Trung Quốc, kinh phí nghiên cứu cơ bản năm 2023 tăng 11,6% so với năm trước; kinh phí nghiên cứu ứng dụng tăng 5,1%; kinh phí phát triển tăng 8,5%. Nhìn tổng thể, tỷ lệ chi cho nghiên cứu cơ bản chiếm 6,77%; tỷ lệ chi cho nghiên cứu ứng dụng 11,0% và và phát triển là 82,2%.
Mặc dù không có con số chính xác về tỉ lệ đầu tư cho R&D của Hàn Quốc nhưng theo Chemical & Engineering News (C&EN), tạp chí của Hội Hóa học Mỹ, vào năm 2019, Hàn Quốc là quốc gia đầu tư cao nhất thế giới về R&D tính theo tỷ lệ phần trăm GDP với con số 4,3% GDP, nghĩa là tỉ lệ cao hơn nhiều so với các quốc gia như Mỹ 2,7% GDP và Trung Quốc 2% GDP. Để tạm giúp hình dung về tỉ lệ chi cho nghiên cứu cơ bản của Hàn Quốc, tạp chí C&EN đã dẫn trường hợp Viện Nghiên cứu cơ bản (IBS), một tổ chức do chính phủ nước này tài trợ theo mô hình của Hội Max Planck (Đức) và Riken (Nhật Bản) để tiến hành "nghiên cứu khoa học cơ bản theo nhóm, dài hạn và trên quy mô lớn", bao gồm hơn 30 trung tâm nghiên cứu trải rộng khắp Hàn Quốc, gần 1.800 nhà nghiên cứu và sinh viên thuộc 68 nhóm nghiên cứu (30% nhà nghiên cứu quốc tế). Đây chính là nơi tạo tầm ảnh hưởng cho Hàn Quốc trên toàn cầu cũng như thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế về dài hạn, điều mà quốc gia này rút được ra sau hàng thập kỷ chỉ tập trung đầu tư vào ứng dụng và phát triển.
Có thể thấy, việc xác định được cấu trúc KH&CN theo mục tiêu phát triển sẽ là cơ sở để xác định được tỉ lệ chi cho nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và phát triển. Nhưng đây mới chỉ là một phần trong kế hoạch đầu tư cho KH&CN, bởi còn một phần quan trọng nữa là các chính sách và khung tài chính đi kèm để đảm bảo chi hiệu quả. Đó cũng là điều mà KH&CN Việt Nam còn thiếu.
Việt Nam có thể học hỏi được gì?
Các kinh nghiệm đầu tư cho khoa học ở những quốc gia xuất sắc đem lại nhiều suy ngẫm, đồng thời khiến người ta phải đặt ra câu hỏi: Liệu Việt Nam nên áp dụng tỉ lệ chi của quốc gia nào?
Thật khó có thể đưa ngay ra một câu trả lời chính xác. Không có một công thức ‘cỡ nào cũng vừa’ (one size fits all) được thiết kế để phù hợp với mọi quốc gia, mọi bối cảnh phát triển, như chia sẻ của GS. Hồ Tú Bảo "Tất cả các tỉ lệ đầu tư đều phụ thuộc vào mục tiêu chiến lược và quy định của phát triển". Ví dụ, Việt Nam không thể bê nguyên xi tỉ lệ chi cho khoa học cơ bản của Trung Quốc về áp dụng ở Việt Nam bởi dẫu Trung Quốc chỉ rót 6,91% trong tổng ngân sách cho khoa học như cách họ ấn định vào năm 2024 thì đó cũng là một con số khá ấn tượng. Quy mô nền kinh tế của Trung Quốc rất lớn và con số 6,91% ấy đem lại cho khoa học cơ bản quốc gia này 249,7 tỉ nhân dân tệ, tương đương 34,659 tỉ USD.
Việc đi tìm được con số phù hợp để ấn định tỉ lệ chi cho KH&CN, đổi mới sáng tạo cho Việt Nam sẽ là kết quả của việc cân nhắc chiến lược phát triển cũng như thực trạng của nền khoa học trên cơ sở tham khảo rất nhiều ý kiến đóng góp và bàn thảo của các chuyên gia giàu kinh nghiệm.
Tuy nhiên, có một điều quan trọng không kém, ông lưu ý, đó là các khung chính sách tài chính đi kèm để đảm bảo việc chi đúng, chi đủ và chi hiệu quả. Đây cũng là những yêu cầu cấp bách của ngành KH&CN và việc đáp ứng các yêu cầu ấy đòi hỏi sự thay đổi.
Trong nhiều năm qua, việc chi đúng, chi đủ và chi hiệu quả là một thách thức với KH&CN Việt Nam. Theo nhận xét của Kiểm toán nhà nước, tuy mức đầu tư cho KH&CN còn thấp so với yêu cầu, chưa đạt tỷ lệ tối thiểu theo quy định, nhưng thực tế lại cho thấy, khả năng hấp thụ vốn đầu tư của ngành KH&CN chưa tương xứng. Kết quả kiểm toán chỉ rõ, hàng năm số hủy dự toán, số nộp trả ngân sách nhà nước, chuyển nguồn ngân sách sang năm sau lớn. Vì sao vậy? Ông Hoàng Văn Lương đã lý giải nguồn cơn dẫn đến hiện trạng trên, một vài nguyên nhân trong số đó là do cơ chế chính sách còn vướng mắc, thiếu đồng bộ, một số văn bản chậm sửa đổi hoặc chậm ban hành dẫn đến khó khăn trong việc triển khai phát triển KH&CN; chưa có quy định về đấu giá tài sản là kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ; chưa có cơ chế để bảo vệ quyền lợi cho các tổ chức nghiên cứu công sở hữu các kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ như sáng chế, bản quyền, nhãn hiệu thương mại.
Soi chiếu vào toàn bộ kết quả cuộc Kiểm toán chuyên đề việc quản lý, sử dụng kinh phí đầu tư cho lĩnh vực KH&CN giai đoạn 2020-2022, Kiểm toán nhà nước cũng cho rằng, do chưa có quy định về khung số lượng các nhiệm vụ KH&CN và tổng mức kinh phí của từng Chương trình cấp quốc gia, dẫn đến tình trạng số lượng và kinh phí của các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học tăng lên qua các năm, việc phân bổ kinh phí sự nghiệp KH&CN cho các nhiệm vụ còn dàn trải, giao nhiều lần trong năm phần nào ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các nhiệm vụ KH&CN.
Những nguyên nhân này cũng được các nhà khoa học trao đổi trong nhiều hội thảo. "Vì sao tốc độ giải ngân của chúng ta không tốt? Vì quy định của Bộ Tài chính về cơ chế chi tiêu cho các đề tài khoa học quá khắt khe", PGS. TS Đinh Hồng Hải (Khoa Nhân học và Tôn giáo, Đại học KHXH&NV, ĐHQGHN) nêu trong một cuộc họp của Quỹ NAFOSTED vào ngày 28/11/2024. Những quy định quá chặt chẽ trong khung quản lý tài chính dòng ngân sách đầu tư khiến cho các nhà khoa học phải tìm cách lách. "Hôm qua chúng tôi mới quyết định mua một chiếc máy tính giá 72 triệu đồng, nhưng phải chia làm hai hóa đơn bởi theo quy định mua sắm thiết bị trên 50 triệu thì phải đấu thầu, phức tạp lắm", GS. Lê Văn Nghị, Giám đốc Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về Động lực học sông biển, cho biết trong hội thảo ngày 9/5/2025.
Đó là lý do mà các nhà khoa học mong muốn có những quy định cụ thể mới về khung quản lý tài chính và hành chính được xây dựng theo tinh thần của Nghị quyết 57 cũng như các văn bản quan trọng khác, đảm bảo yêu cầu "chi đúng, chi đủ và chi hiệu quả" nguồn lực đầu tư của nhà nước.
Tuy vậy, để có được những quy định đúng cần rà soát lại hệ thống văn bản hướng dẫn về cơ chế tài chính và đánh giá những bài học kinh nghiệm từ quá khứ. Kiểm toán nhà nước cũng từng có đề xuất tương tự như đề nghị Bộ KH&CN phối hợp với Bộ Tài chính sửa đổi Nghị định 70/NĐ-CP; tổng kết đánh giá hiệu quả, đánh giá lại cơ chế hoạt động của hệ thống Phòng thí nghiệm trọng điểm để có phương án sắp xếp phù hợp, nhằm khắc phục tình trạng lãng phí nguồn lực ngân sách nhà nước và phát huy tối đa hiệu quả nguồn lực, thúc đẩy phát triển KH&CN và đổi mới sáng tạo.
KH&CN Việt Nam đang đứng trước một cơ hội chuyển đổi mới. Khi nhìn vào cơ hội đó, tại hội thảo ngày 9/5/2025, GS. Hồ Tú Bảo cho rằng, "KH&CN phải thay đổi mạnh mẽ. Và trong tất cả những thay đổi đó, chúng ta cần nhìn lại toàn bộ ngành KH&CN, từ các nhà quản lý đến nhà khoa học".
Bài đăng KH&PT số 1346 (số 22/2025)
Thanh Nhàn

