Đơn cử, mức độ trùng lặp ngành đào tạo giữa ĐH Nông Lâm Bắc Giang và Học viện Nông nghiệp Việt Nam lên tới 95%, với 17/20 ngành trùng mã. Con số trùng lặp đối với ĐH Tài nguyên và Môi trường Hà Nội là 52% (12 ngành trùng mã), còn ĐH Tài nguyên và Môi trường TP.HCM là 65% (11 ngành trùng mã).
Tình trạng nêu trên đòi hỏi một cuộc tái cấu trúc, trong đó sáp nhập những cơ sở có lĩnh vực đào tạo gần nhau là một hướng đi cần được tính đến. Mục tiêu không đơn thuần chỉ để giảm số lượng đầu mối theo tinh thần của Kế hoạch số 06-KH/TW [1], mà còn nhằm hình thành những thực thể đủ năng lực giải quyết các bài toán lớn của kỷ nguyên mới: bảo đảm an ninh lương thực; chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh, bền vững, tuần hoàn; và thực hiện cam kết phát thải ròng bằng không vào năm 2050.
Đó phải là những đại học có khả năng đối thoại sòng phẳng và bình đẳng với những đại học nông nghiệp tinh hoa trên thế giới như ĐH Wageningen (Hà Lan), ĐH California - Davis (UC Davis, Mỹ), ĐH Nông nghiệp Trung Quốc (CAU) hay ĐH Nông nghiệp Tokyo (Tokyo NODAI, Nhật Bản).
Lớn phải đi cùng chuyên sâu
Khoa học hiện đại không thể phát triển với các "ngăn kéo" đơn ngành biệt lập. Giải pháp cho những thách thức lớn của thời đại - biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng, trí tuệ nhân tạo... - đòi hỏi sự giao thoa liên ngành rất cao. Một kỹ sư nông nghiệp thế hệ mới bắt buộc phải hiểu biết về trí tuệ nhân tạo và kinh tế tuần hoàn để tối ưu hóa canh tác theo hướng tăng lượng carbon được lưu giữ trong đất, đồng thời giảm phát thải khí nhà kính từ hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Lớn hơn, thông qua hoạt động sáp nhập, giúp các đại học tích tụ nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất lớn để hấp thụ các dự án vốn hỗ trợ phát triển (ODA), đầu tư vào các hệ thống dùng chung vô cùng đắt đỏ như phòng thí nghiệm trọng điểm đạt chuẩn ISO, hạ tầng siêu máy tính và thư viện số khép kín mà các trường nhỏ lẻ không bao giờ có thể tự trang bị; đủ sức giải các bài toán lớn của ngành và quốc gia.
Nhưng nếu "lớn" chỉ là phép cộng cơ học về mặt hành chính, đại học sẽ dễ rơi vào cái bẫy "cồng kềnh và quan liêu", trở thành những người "khổng lồ chân đất sét". Sự chuyên sâu cung cấp giá trị khác biệt cốt lõi cho người học và tạo ra các trường phái khoa học thực sự đạt trình độ xuất sắc ngang tầm quốc tế.
Sinh viên Trường ĐH Nông Lâm Bắc Giang trong giờ thực hành. Ảnh: BAFU
Vì vậy, mô hình lý tưởng là "vỏ bọc lớn - lõi chuyên sâu". Trong đó, đại học "mẹ" đóng vai trò là một định chế vĩ mô nắm giữ chiến lược, quản trị rủi ro và điều phối hạ tầng, tài chính dùng chung; còn các trường/viện thành viên bên trong hoạt động như những pháp nhân độc lập "siêu" chuyên sâu, có quyền tự chủ học thuật tuyệt đối để giữ tính sáng tạo cao nhất. Khi đó, sáp nhập để lớn hơn là điều kiện cần để tạo không gian và bệ đỡ vững chắc cho việc chuyên sâu hơn - vốn là điều kiện đủ để hệ thống tồn tại và bứt phá.
Quy trình sáp nhập cần có bộ tiêu chí ưu tiên riêng, nhằm bảo vệ và thúc đẩy đà phát triển dài hạn của từng đơn vị.
Nên gom các ngành gần để tinh gọn bộ máy, cắt bỏ các ngành trùng lặp lãng phí, đồng thời kết hợp các ngành bổ trợ để kiến tạo không gian liên ngành mới. Sáp nhập các cơ sở giáo dục trên cùng địa bàn tỉnh/thành hoặc liền kề về mặt địa lý để chia sẻ tài nguyên dùng chung và giảm chi phí điều hành.
Đại học luôn là tổ chức tập hợp những trí thức có "cái tôi" rất cao, nơi sự xung đột văn hóa, lối mòn tư duy chính là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến sự kháng cự ngầm và thất bại hậu sáp nhập. Do đó, cần nhận diện phần chìm dưới mặt nước của tảng băng văn hóa tổ chức để thấu hiểu các nhu cầu, nỗi sợ mất bản sắc của giảng viên.
Trả về hay giữ lại
Có quan điểm cho rằng nên đưa các trường đại học công lập về Bộ Giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) quản lý để nhất quán một đầu mối vĩ mô. Tuy nhiên, có ít nhất ba lý do khiến các trường nông nghiệp chuyên ngành cần ở lại Bộ Nông nghiệp và Môi trường:
Xung đột giữa tính chất ngành và yêu cầu xã hội hóa: Dưới áp lực tự chủ tài chính và thăng hạng quốc tế, như một lẽ tự nhiên, sự ưu tiên của Bộ GD&ĐT sẽ luôn hướng về các trường có khả năng xã hội hóa cao, thu hút nhiều người học có khả năng tự túc học phí lớn (Kinh tế, Công nghệ, Ngoại thương).
Trong khi đó, học phí ngành nông - lâm - ngư không thể tăng cao vì đối tượng người học chủ yếu là con em nông dân, vùng sâu vùng xa.
Sự tích hợp hữu cơ vào chuỗi giá trị và tài nguyên thực địa của ngành: Khi nằm dưới sự quản lý của bộ chuyên ngành, việc đào tạo và R&D của nhà trường được thiết kế trực tiếp theo đơn đặt hàng của các đề án quốc gia. Sinh viên và nhà nghiên cứu được tiếp cận hệ thống hàng trăm viện nghiên cứu trực thuộc Bộ, các lâm trường, ngư trường - những "phòng thí nghiệm thực địa mở" khổng lồ trải dài từ Bắc chí Nam mà Bộ GD&ĐT không thể cung cấp được.
Sinh viên Học viện Nông nghiệp Việt Nam trong phòng thí nghiệm. Ảnh: VNUA
Bài học lịch sử và kinh nghiệm quốc tế: Sự sa sút nghiêm trọng về cơ sở vật chất và nguồn lực của Trường ĐH Nông nghiệp (tên gọi của Học viện Nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 1963-2014) khi chuyển từ Bộ Nông nghiệp về Bộ GD&ĐT vào năm 1984 là một minh chứng rõ ràng. Trường được kiến tạo bởi các kiến trúc sư vĩ đại của ngành nông nghiệp như kỹ sư canh nông Bùi Huy Đáp, GS Lương Định Của, nhân sĩ Nguyễn Đăng, GS Lê Duy Thước với mô hình Học viện Nông Lâm kết nối 17 trạm trại thực nghiệm lớn trên khắp miền Bắc. Sau khi chuyển về Bộ GD&ĐT, do thiếu vốn đầu tư, các trạm trại thực nghiệm đã rơi rụng dần, cơ sở hạ tầng xuống cấp. Mãi cho đến khi được chuyển giao lại Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn vào năm 2014 và ngay sau đó đón nhận bệ đỡ cơ sở vật chất và thiết bị từ dự án ODA SAHEP trị giá 54,2 triệu USD (2017), Nhà trường mới thực sự hồi sinh và bứt phá mạnh mẽ.
Trên thế giới, các quốc gia nông nghiệp phát triển như Pháp, Nga cũng duy trì mô hình các trường đại học và cơ sở đào tạo đại học khối nông nghiệp trực thuộc sự quản lý của Bộ Nông nghiệp để bảo đảm dòng vốn đầu tư và gắn kết thực tiễn.
Tái cấu trúc theo mô hình đa phân hiệu
Từ những phân tích nêu trên, nhằm giải quyết dứt điểm sự manh mún và chồng chéo của hệ thống đại học, cao đẳng nông nghiệp, tôi đề xuất phương án tái cấu trúc như sau:
Thành lập ĐH Nông nghiệp Quốc gia Việt Nam theo mô hình tập đoàn giáo dục - nghiên cứu đa phân hiệu (như mô hình UC của Mỹ và mô hình CAU của Trung Quốc).
Theo đó, hợp nhất Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Trường ĐH Lâm nghiệp, Trường ĐH Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, và Trường ĐH Nông Lâm Bắc Giang thành ĐH Nông nghiệp Quốc gia Việt Nam.
ĐH Nông nghiệp Quốc gia Việt Nam đặt trụ sở chính tại Gia Lâm, Hà Nội, cũng là nơi tọa lạc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, hạt nhân trung tâm trong hệ thống đại học nông nghiệp của nước ta. Học viện hiện có 728 giảng viên, trong đó có 90 là Giáo sư/Phó giáo sư. Đội ngũ Tiến sĩ chiếm 379 người (tương đương 52%), hầu hết trong số đó được đào tạo ở nước ngoài. Khuôn viên của Học viện rộng 318 ha, với 52 phòng Lab, trong đó 6 phòng đạt chuẩn ISO. Quy mô tuyển sinh của Học viện vào khoảng 9.600 sinh viên/năm, vượt xa quy mô các trường khác trong cùng hệ thống [2]. Cũng có thể cân nhắc lấy lại tên gọi lịch sử Học viện Nông Lâm như khi mới thành lập để đặt cho cơ sở mới sau khi sáp nhập.
Đồng thời, sáp nhập hữu cơ với các viện nghiên cứu lớn của ngành nông nghiệp (như Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Viện Nghiên cứu Lâm nghiệp, Viện Nghiên cứu Thủy sản...) để thực hiện mô hình "viện trong trường, trường trong viện".
Bên cạnh đó, sáp nhập Trường ĐH Tài nguyên và Môi trường TP.HCM với Trường Chính sách công và Phát triển nông thôn thành Phân hiệu phía Nam của ĐH Nông nghiệp Quốc gia Việt Nam; từng bước liên kết sâu để chuyển đổi các trường đại học Nông Lâm Huế, Nông Lâm TP.HCM, Nông Lâm Thái Nguyên, Nha Trang, Tây Nguyên thành các phân hiệu vùng sinh thái chiến lược.
Ngoài ra, sáp nhập toàn bộ 11 trường cao đẳng nông - lâm - ngư nghiệp trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường về ĐH Nông nghiệp Quốc gia Việt Nam dưới dạng các phân hiệu đào tạo nghề và thực hành chất lượng cao.
Đặc biệt, dù không thích hợp để sáp nhập vào ĐH Nông nghiệp Quốc gia Việt Nam, Trường ĐH Thủy lợi vẫn có thể chuyển giao toàn bộ mảng đào tạo, nghiên cứu về thủy nông và thủy lợi nhỏ (hệ thống tưới tiêu nội đồng tiết kiệm nước, quản lý đê điều cấp xã, phòng chống thiên tai tại chỗ và hồ chứa nước nhỏ ở nông thôn) về đây. Điều này giúp mảng thủy lợi nhỏ tích hợp hữu cơ, sâu sắc với khoa học cây trồng và thổ nhưỡng học tại ĐH Nông nghiệp Quốc gia.
Tái cấu trúc hệ thống giáo dục đại học ngành nông nghiệp là một cơ hội lớn để khắc phục tình trạng phân tán nguồn lực kéo dài nhiều thập niên, nhưng cũng có thể tạo ra những bất cập mới nếu chỉ dừng ở việc sắp xếp lại các đầu mối hành chính. Thành công không được thể hiện trên những con số cơ học của việc giảm đầu mối, mà khi quy mô và nội lực của mỗi cơ sở giáo dục đều là nền tảng phù hợp cho sự xuất sắc, giúp kiến tạo được những đại học đủ mạnh để giải quyết các bài toán phát triển của đất nước và tham gia bình đẳng vào cộng đồng học thuật quốc tế.
---
Chú thích:
[1] Kế hoạch số 06-KH/TW về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương hai cấp, ban hành ngày 28/7/2026, đặt mục tiêu giảm tối thiểu 20% đầu mối cơ sở giáo dục đại học công lập. Báo điện tử Chính phủ: https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/ke-hoach-so-06-kh-tw-thuc-hien-ket-luan-hoi-nghi-trung-uong-3-khoa-xiv-ve-tiep-tuc-hoan-thien-van-hanh-hieu-qua-mo-hinh-to-chuc-tong-the-cua-he-thong-chinh-tri-mo-hinh-chinh-quyen-dia-phuong-2-cap-119260729095029975.htm
[2] Báo cáo 3 công khai. Học viện Nông nghiệp Việt Nam. https://vnua.edu.vn/3-cong-khai