Anh Nguyễn Thế Hùng, một người Hội An gốc, nói rằng, muốn biết cái gì là đẹp nhất của Hội An, hãy ra cánh đồng lúa Trường Lệ của phường Hội An Đông. Lúa nằm trong phố là một điểm nhấn tuyệt diệu của Hội An. Giữa đồng lúa ở khu dân cư có một gò đất cao hơn mặt ruộng. Trên gò là một nấm mộ hình yên ngựa, tấm bia sa thạch trắng ghi lại câu chuyện Tani Yajirobei, một thương nhân đến từ Hirado. Ngôi mộ được đặt theo trục Tây Nam - Đông Bắc, để ánh nhìn của người đã khuất hướng về cố hương, cách đó ba nghìn cây số trùng dương.
Tấm bia sa thạch trắng ghi lại câu chuyện về thương nhân Tani Yajirobei. Ảnh: TVN
Năm nay ngôi mộ đã 379 tuổi. Nó đã ở đó, vẹn nguyên qua bao nhiêu là bể dâu: thời chúa Nguyễn, Tây Sơn, triều Nguyễn, qua hai cuộc chiến tranh, qua những đợt đô thị hóa đang gặm dần vào các cánh đồng ven phố cổ. Mộ vẹn nguyên, không phải nhờ một quyết định xếp hạng di tích, mà nhờ những gia đình nông dân đã năm, sáu thế hệ thay nhau quét tước, hương khói cho một người ngoại quốc không máu mủ, không thù lao. "Chạp mả" là một việc thiêng liêng của người Hội An, và họ sắm thêm một mâm lễ đem ra ruộng, đặt trước mộ người Nhật, vì một nỗi trăn trở rất Quảng Nam: "Không để ổng cô quạnh nơi đất Hội An này."
Đứng trước gò đất ấy, tôi nghĩ: nếu muốn hiểu mối bang giao Việt - Nhật đã bắt đầu như thế nào, và muốn hiểu cái gì mới thực sự là hồn cốt của một di sản, thì có lẽ nên bắt đầu từ đây chứ không phải từ chùa Cầu đông nghịt du khách.
Mối bang giao bắt đầu bằng lòng tin
Cuối thế kỷ 16, chính sách hải cấm của nhà Minh để lại một khoảng trống khổng lồ trên biển Đông. Mạc phủ Tokugawa lấp vào bằng chế độ Châu ấn thuyền, cấp phép cho tàu buôn Nhật Bản ra nước ngoài; các chúa Nguyễn ở Đàng Trong mở cửa đón lấy. Hội An, hay Faifo trong ghi chép phương Tây, trở thành điểm nút: 86 thuyền buôn Nhật đã cập cảng nơi đây, chiếm hai phần ba tổng số thuyền được cấp châu ấn (giấy phép có đóng dấu son) đến Việt Nam.
Người Nhật mang bạc, đồng, diêm tiêu đến; chở tơ lụa thô Quảng Nam, trầm hương, kỳ nam về Nagasaki. Một khu phố Nhật dài hơn 300 mét mọc lên bên này chùa Cầu, có thị trưởng do cộng đồng tự bầu và chúa Nguyễn phê chuẩn, đối diện với Đường Nhân Phố của người Hoa bên kia cầu. Giáo sĩ Christoforo Borri, đến Đàng Trong năm 1618, mô tả Hội An như hai thành phố đặt cạnh nhau.
Tranh vẽ một chiếc châu ấn thuyền. Dòng lạc khoản bên phải ghi "Tự Trường Kỳ đáo An Nam quốc thuyền đồ" (Tranh thuyền từ Nagasaki đi An Nam), được vẽ vào khoảng những năm 1600-1650. Nguồn: Wikipedia
Chúa Nguyễn Hoàng nhận thương nhân Hunamoto Yabeiji làm con nuôi năm 1604. Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên ban quốc tính cho hào thương Araki Sotaro, đặt tên Việt là Nguyễn Thái Lang, rồi năm 1619 làm điều chưa từng có: gả con gái nuôi, Công nữ Ngọc Hoa, cho ông. Bà theo chồng về Nagasaki, trở thành người phụ nữ Việt đầu tiên định cư trên đất Nhật, được dân địa phương gọi trìu mến là Anio-san, chuyển âm từ tiếng "Anh ơi" bà vẫn gọi chồng. Đến nay, mỗi mùa lễ hội Nagasaki Kunchi tháng Mười, màn rước kiệu châu ấn thuyền tái hiện đôi vợ chồng ấy vẫn là tâm điểm.
Tôi biết có anh Đoàn Ngọc Hiếu vẫn bay liên tục như con thoi giữa Việt Nam và Nhật Bản để chuẩn bị cho bộ phim điện ảnh làm chung giữa hai quốc gia về Công nữ Ngọc Hoa, và cả ước mơ đem vở opera ngợi ca mối tình của hai con người, của hai vùng đất về biểu diễn tại quê mình...
Hồn di sản không nằm trong gỗ đá
Chúng ta quen nhìn về di sản Hội An qua những hiện vật: những dãy nhà cổ màu vàng phủ rêu phong, những giếng nước nhỏ giữa các đoạn hẻm nhỏ giao nhau - mà người Hội An gọi là kiệt, chùa Cầu do người Nhật khởi dựng khoảng năm 1593, được chúa Nguyễn Phúc Chu năm 1719 ban tên "Lai Viễn Kiều" - cầu đón khách phương xa; những mái ngói âm dương; sợi mì cao lầu mang hình hài của Ise Udon vùng Mie nhưng được nhào lại bằng nước tro Cù Lao Chàm và nước giếng Bá Lễ. Tất cả đều quý. Nhưng gỗ có thể mục, cầu có thể trùng tu. Cái không thể trùng tu, không thể tài trợ, không thể xếp hạng, là thứ khiến những hiện vật ấy còn có nghĩa: con người Hội An.
Chùa Cầu do người Nhật khởi dựng khoảng năm 1593 ở Hội An. Nguồn: Wikipedia
Hãy nhìn lại chuỗi hành vi xuyên suốt bốn thế kỷ. Người Hội An thế kỷ 17 không nhìn thương nhân Nhật như những kẻ tha hương đến trục lợi, mà như những người đồng kiến tạo, nên chúa mới gả con, dân mới thương, và mới có những dòng họ lai mang họ Trần, họ Nguyễn ở Ngũ Hành Sơn. Người Hội An thế kỷ 18 lấy một món mì của người Nhật, nhào nặn lại bằng nguyên liệu bản xứ, thành một món ăn không còn của riêng ai. Và người Hội An suốt từ thế kỷ 17 đến hôm nay cắm nhang lên mộ ba thương nhân ngoại quốc, là Tani Yajirobei, Banjiro, Gusokukun như cắm lên mộ ông bà mình.
Đó chính là cái mà tên gọi "Lai Viễn Kiều" gói lại trong ba chữ. Cây cầu đón khách phương xa, nhưng cây cầu chỉ là biểu tượng; chủ thể đón khách là con người. Di sản Hội An, xét đến cùng, không phải là một quần thể kiến trúc được UNESCO công nhận năm 1999. Nó là một cách sống đã được thực hành liên tục hơn bốn trăm năm, mà quần thể kiến trúc kia chỉ là dấu vết vật chất.
Trong lúc chúng ta lo lắng về việc du lịch đại trà đang biến phố cổ thành sân khấu, về những căn nhà cổ đổi chủ, về di sản bị "hàng hóa hóa", thì ngôi mộ 379 năm tuổi giữa ruộng lúa Trường Lệ nhắc một điều căn bản: cái cần bảo tồn nhất ở Hội An không phải là gỗ, là ngói, là bia đá. Cái cần bảo tồn là điều kiện sống để những người nông dân thắp hương hôm nay cho ngôi mộ kẻ viễn xứ còn có thể tiếp tục là người Hội An.