Trong biên niên sử kiến trúc Việt Nam thế kỷ 20, cái tên Ngô Viết Thụ (1926 - 2000) gắn liền với những công trình mang tính biểu tượng. Người ta nhớ đến ông qua những đường nét hình học dứt khoát, sự bề thế của khối tích và một ngôn ngữ kiến trúc hiện đại, khúc chiết. Nhìn vào những công trình ông để lại, có thể thấy một mối quan tâm khác cũng xuyên suốt: kiến trúc hiện đại không nhất thiết phải đứng đối lập với lịch sử, cảnh quan và những gì đã có.
Xây mới nhưng không nhất thiết xóa bỏ cái cũ
Có một chi tiết lịch sử ít được nhắc tới: năm 1962, khi Dinh Norodom, tức Dinh Độc Lập cũ, bị ném bom hư hại nặng, bản năng của một kiến trúc sư là đập bỏ tàn tích để kiến tạo một dấu ấn hoàn toàn mới. Nhưng Ngô Viết Thụ không làm vậy, phương án đầu tiên ông đệ trình là một nỗ lực cứu vãn di sản: cải tạo, hợp lý hóa công năng và nâng tầng dựa trên chính hệ kết cấu cũ. Chỉ đến khi những tính toán kỹ thuật của kỹ sư cho thấy sự chắp vá giữa phần cũ và mới không đảm bảo an toàn, giải pháp xây mới ngậm ngùi được lựa chọn.
Mặt tiền Dinh Độc Lập, TP.HCM. Ảnh: Wikicommons
Cuộc thi thiết kế lại Dinh Độc Lập diễn ra cùng năm là một lát cắt để nhìn nhận tầm vóc của ông. Trong số 15 đồ án dự thi, có tới 14 phương án không thoát khỏi cái bóng vời vợi của quá khứ, vẫn dựa vào hệ thức cột cổ điển hoặc rụt rè khoác chiếc áo phong cách Đông Dương. Đồ án duy nhất dám sử dụng ngôn ngữ kiến trúc hiện đại thuộc về Ngô Viết Thụ. Dinh Độc Lập ra đời từ đó, không chỉ là một đỉnh cao của việc dung hòa triết lý Á Đông vào công năng phương Tây, mà còn là một cú hích đưa kiến trúc Việt Nam đón nhận luồng gió hiện đại hóa.
Dinh Độc Lập ra đời từ đó, trở thành một thử nghiệm đáng chú ý về việc kết hợp kiến trúc hiện đại với những yếu tố văn hóa và khí hậu của Việt Nam. Công trình cho thấy hiện đại hóa không nhất thiết đồng nghĩa với việc phủ nhận hoàn toàn những giá trị của quá khứ.
Đó cũng là một chìa khóa để nhìn những công trình khác của Ngô Viết Thụ.
Dấu ấn Sài Gòn, Huế và Đà Lạt
Sự nghiệp của Ngô Viết Thụ được ghi dấu ở nhiều nơi nhưng Sài Gòn, Huế và Đà Lạt cho thấy rõ cách ông đặt công trình trong mối quan hệ với nơi chốn nó thuộc về.
Tại Sài Gòn - TP.HCM, Dinh Độc Lập - Hội trường Thống Nhất ngày nay không đứng trơ trọi. Nó là hạt nhân của một "tứ giác di sản", giới hạn bởi các trục Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Hữu Cảnh/Thị Nghè, Lê Thánh Tôn và Cách Mạng Tháng 8. Trong một vùng lõi lịch sử hiếm hoi còn giữ lại được 80-90% mật độ công trình di sản, tác phẩm của ông là minh chứng cho một nguyên tắc vàng: kiến trúc biểu tượng không bao giờ tách rời cảnh quan xung quanh, mà phải lùi lại, cộng sinh và "thở" cùng nhịp điệu của đô thị.
Mặt tiền Nhà thờ chính tòa Phủ Cam, TP Huế. Ảnh: Wikicommons
Về với Huế, nơi chôn nhau cắt rốn, Ngô Viết Thụ để lại dấu ấn qua những công trình dọc theo bờ Nam sông Hương thơ mộng như Trường Đại học Sư phạm Huế, cụm Khách sạn Hương Giang và Khoa Văn. Những công trình này thuộc về một lớp kiến trúc hiện đại hình thành bên cạnh những lớp di sản kiến trúc Pháp và kiến trúc kinh đô cũ.
Điều đáng chú ý ở đây không hẳn là việc Ngô Viết Thụ đã "đoán trước" tương lai của Huế, mà là những công trình của ông cho thấy một lớp ký ức khác của thành phố, ký ức của thế kỷ 20, nằm bên cạnh di sản kinh đô thế kỷ 19.
Và Đà Lạt, mảnh đất tình yêu của mình, Ngô Viết Thụ để lại hai hình mẫu kinh điển về quy hoạch. Với Chợ Đà Lạt, ông gạt bỏ tư duy xây một khối hộp thương mại mà tổ chức lại không gian bằng hệ thống cầu nối trên cao, những dãy phố đi bộ, mở tầm nhìn hướng về phía Hồ Xuân Hương. Với Viện Nghiên cứu Hạt nhân, khi các chuyên gia Mỹ khăng khăng muốn đặt một khối lập phương vuông vức xuống đồi thông, Ngô Viết Thụ đã quyết liệt phản đối. Sự thô ráp ấy sẽ là một vết chém vào thiên nhiên. Nhờ ông, công trình biến thành một quần thể mềm mại, ẩn mình khiêm nhường dưới những tán thông xanh.
Toàn cảnh Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt. Ảnh: NRI
Từ di sản kiến trúc đến quy hoạch đô thị hôm nay
Đây cũng là điểm khiến di sản Ngô Viết Thụ vượt ra ngoài câu chuyện của những công trình cụ thể. Tại tọa đàm kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông, các công trình được nhìn lại trong bối cảnh những đô thị Việt Nam đang đứng trước sức ép mở rộng và tái cấu trúc không gian.
Bài học từ Paris, London hay Tokyo nhắc rằng vùng lõi di sản cần được đưa vào vòng bảo vệ. Sự phồn hoa và các khối nhà chọc trời cần được tản ra, hình thành các siêu đô thị vệ tinh đa trung tâm, trả lại không gian thở cho ký ức của thành phố.
Tại Huế, nếu bờ Bắc sông Hương là linh hồn của kiến trúc Kinh thành thế kỷ 19, thì bờ Nam chính là bảo tàng sống của kiến trúc thế kỷ 20 với sự giao thoa giữa kiến trúc Pháp nửa đầu thế kỷ và dấu ấn của các kiến trúc sư Việt Nam ở nửa sau. Khoanh vùng bờ Nam là cách giữ gìn lớp cắt lịch sử này, tạo thế cân bằng khi Huế đang mạnh mẽ vươn mình ra hướng Lăng Cô, đầm phá.
Với Đà Lạt, sự phân định ranh giới càng trở nên cấp bách. Bờ Nam Hồ Xuân Hương mang dáng dấp di sản kiến trúc Pháp, trong khi bờ Bắc (khu Hòa Bình, chợ Đà Lạt) là vệt ký ức không thể xóa nhòa của phố thị người Việt. Vì vậy, đề xuất dời trung tâm hành chính tỉnh về Đức Trọng không chỉ là một giải pháp giãn dân hay giảm tải hạ tầng; đó là hành động chuộc lỗi với tự nhiên, trả Đà Lạt về đúng bản ngã của một đô thị di sản và nghỉ dưỡng thiên nhiên.