Đứng trước bài toán đánh thức vốn tài sản trí tuệ này, bộ máy quản lý dường như đang mắc kẹt trong một nghịch lý khi dồn sức đi tìm những hướng dẫn lý thuyết cho một vấn đề vốn chỉ có thể giải quyết bằng các công cụ thực tiễn.
Khắc phục "điểm mù" dữ liệu
Về mặt học thuật và pháp lý, chúng ta không thiếu những phương pháp định giá kinh điển đã được chuẩn hóa hoặc theo thông lệ quốc tế; cũng không thiếu các chuyên gia kinh tế, các tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp hoàn toàn đủ năng lực áp dụng các phương pháp này.
Vấn đề ở chỗ, mặc dù đã vận dụng các kiến thức chuyên môn, các phương pháp theo thông lệ quốc tế, các hội đồng khoa học hay tổ chức thẩm định khi thực hiện xác định giá trị tài sản trí tuệ tạo ra từ nguồn ngân sách nhà nước vẫn e ngại, không muốn mạo hiểm sinh mệnh nghề nghiệp của mình để chốt mức giá cho một tài sản vô hình - một công nghệ mới, khi ranh giới giữa "rủi ro thương mại thông thường" và "làm thất thoát tài sản" vẫn còn rất mong manh.
"Liều thuốc" để giải quyết bài toán thẩm định này chính là cơ sở dữ liệu thị trường phong phú, chính xác và minh bạch. Làm sao một chuyên gia có thể áp dụng phương pháp so sánh thị trường khi mọi giao dịch mua bán các tài sản trí tuệ diễn ra khép kín và chưa có một hệ thống dữ liệu quốc gia để tham khảo? Việc công khai các kết quả nghiên cứu và thực tiễn khai thác, các giao dịch liên quan đến tài sản trí tuệ là các kết quả nghiên cứu có được quan tâm không? Việc này cần có sự chủ động vào cuộc của các cơ quan quản lý về giá và các giao dịch thị trường.
Nhìn ra thông lệ quốc tế, việc tháo gỡ điểm nghẽn trong xác định giá trị để khơi thông thị trường tài sản trí tuệ không phải là kết quả của những giải pháp tình thế, mà là cần có quá trình kiên trì kiến tạo hạ tầng dữ liệu trong nhiều thập kỷ với nguồn lực khổng lồ và sự nỗ lực đóng góp của các bên.
Ranh giới giữa "rủi ro thương mại thông thường" và "làm thất thoát tài sản" vẫn còn rất mong manh. Ảnh minh họa: Một phòng thí nghiệm tại Đại học Quốc gia TP. HCM. Nguồn: VNUHCM
Tại các nền kinh tế phát triển như Mỹ hay Nhật Bản, các chuyên gia thẩm định giá hiện nay không phải làm việc trong tình trạng mù mờ thông tin. Họ được hỗ trợ bởi những hệ thống dữ liệu đồ sộ và chuyên sâu như ktMINE (https://www.ktmine.com/), RoyaltyStat (https://www.royaltystat.com/) hay nền tảng J-STORE (https://jstore.jst.go.jp/).
Điểm ưu việt của những bộ công cụ kể trên không chỉ nằm ở khối lượng dữ liệu khổng lồ, mà ở khả năng minh bạch hóa thị trường: từ các hợp đồng cấp phép thực tế, biên độ phí bản quyền (royalty rate) trong từng ngách thị trường cho đến cấu trúc chia sẻ lợi nhuận giữa các chủ thể. Nhờ đó, việc xác định giá trị, định giá tài sản vô hình đã chuyển dịch hoàn toàn từ trạng thái "phỏng đoán định tính" sang "phân tích dựa trên bằng chứng" (evidence-based analysis) thuyết phục.
Đặc biệt, mô hình J-STORE của Nhật Bản còn là minh chứng điển hình cho vai trò dẫn dắt của Nhà nước trong việc niêm yết công khai các kết quả nghiên cứu từ ngân sách, tạo điều kiện cho thị trường trực tiếp tiếp cận và khai thác, thay vì để tài sản "ngủ đông" trong những báo cáo hành chính. Đây chính là bài học thực tiễn giá trị mà Việt Nam cần sớm tiếp thu để chuẩn hóa quy trình thẩm định, đưa thị trường tài sản trí tuệ thoát khỏi tình trạng thiếu minh bạch hiện nay.
Trong bối cảnh nguồn lực có hạn và thời gian là yếu tố sống còn, thay vì chờ đợi các dự án dài hơi để tự xây dựng cơ sở dữ liệu từ con số không và đặc biệt là chưa có kinh nghiệm về lĩnh vực này, các cơ quan quản lý nhà nước cần mạnh dạn thay đổi chiến lược: ưu tiên sử dụng ngân sách để mua quyền truy cập các kho dữ liệu thương mại uy tín quốc tế đã có để phục vụ cho việc xác định giá trị tài sản trí tuệ bằng các phương pháp tiếp cận theo thông lệ quốc tế. Đây là bước đi tắt đón đầu, vừa tiết kiệm chi phí, vừa đảm bảo tính chuẩn xác và hội nhập quốc tế cho hoạt động định giá ngay từ những ngày đầu.
Hai cơ chế bảo vệ người đặt bút ký chứng thư thẩm định giá
Bên cạnh dữ liệu, cơ chế pháp lý để bảo vệ rủi ro cho các chuyên gia khi họ đặt bút ký chứng thư thẩm định giá là yếu tố sống còn. Kinh nghiệm của Mỹ trong việc xây dựng một hành lang an toàn chặt chẽ thông qua hai nguyên tắc nền tảng rất đáng quan tâm.
Thứ nhất là nguyên tắc "Bến đỗ an toàn" (Safe Harbor), được luật hóa điển hình trong Đạo luật Cải cách Tranh tụng Chứng khoán Tư nhân Mỹ (quy định tại 15 U.S.C. § 78u-5), giúp miễn trừ trách nhiệm dân sự cho chuyên gia khi đưa ra các dự báo dòng tiền tương lai nếu họ đã công bố minh bạch các rủi ro đi kèm.
Thứ hai là "Quy tắc phán quyết kinh doanh" (Business Judgment Rule) mang tính phổ quát trong hệ thống thông luật quốc tế (điển hình tại Tòa án tối cao bang Delaware, Mỹ), bảo vệ các cá nhân ra quyết định kinh tế nếu họ hành động trung thực, thiện chí và có cơ sở hợp lý tại thời điểm đánh giá, bất luận kết quả thương mại hóa sau đó thành công hay thất bại.
Nói cách khác, các cơ quan quản lý về tài chính, dân sự, hình sự cần thiết lập các cơ chế minh bạch bảo vệ chuyên gia, chấp nhận tỷ lệ rủi ro nhất định trong định giá tài sản vô hình như một phần tất yếu của đầu tư mạo hiểm và đổi mới sáng tạo.
Cởi bỏ sự khiên cưỡng về "nguồn gốc vốn"
Cần sòng phẳng nhìn nhận một quy luật: khi bước ra thương trường, giá trị của một công nghệ được đo lường bằng năng lực giải quyết vấn đề của xã hội và lợi thế cạnh tranh, chứ hoàn toàn không phụ thuộc vào tờ "giấy khai sinh" ghi rõ ai là người cấp vốn để tạo ra nó. Dù được thai nghén từ ngân sách nhà nước, quỹ đầu tư mạo hiểm hay tiền túi của một kỹ sư độc lập, tài sản trí tuệ đều phải đứng trước một vị giám khảo duy nhất: quy luật cung cầu.
Thị trường không trả giá cao hơn cho một công nghệ chỉ vì nó được nghiên cứu bằng tiền thuế của dân. Ảnh minh họa: Sản phẩm tạo ra từ phòng Công nghệ sinh học VKIST có thể là thuốc; thực phẩm chức năng, thực phẩm bổ sung, nước uống; mỹ phẩm; thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y. Tác giả: Ngọc Thành - Như Quỳnh
Thị trường không trả giá cao hơn cho một công nghệ xử lý nước thải chỉ vì nó được nghiên cứu bằng tiền thuế của dân. Do vậy, việc đòi hỏi phải có những nhánh quy trình hành chính riêng biệt, phức tạp hơn để định giá cho nhóm công nghệ từ ngân sách là một sự khiên cưỡng về mặt khoa học thẩm định giá. Việc tạo ra các quy trình rẽ nhánh không làm cho việc định giá chính xác hơn, mà chỉ đẻ ra những thủ tục rườm rà, cô lập các kết quả nghiên cứu công và vô hình chung phát đi một thông điệp sai lệch rằng: thương mại hóa kết quả nghiên cứu từ ngân sách là một việc tiềm ẩn cực kỳ nhiều rủi ro pháp lý.
Tựu trung, cần thay đổi việc cố tình khoác một chiếc áo quá nặng nề lên các tài sản trí tuệ có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.
Trên thực tế, ngay cả ở các nước phát triển, việc chuyển giao công nghệ giữa khối hàn lâm cho doanh nghiệp luôn không dễ dàng khi tỷ lệ thương mại hóa sáng chế thành công chỉ dao động 3 - 7%, phần lớn nghiên cứu ứng dụng, định hướng ứng dụng không vượt qua nổi "thung lũng chết". Chưa kể ở Việt Nam, các viện, trường mới đang chập chững bước vào con đường thương mại hóa trong một bối cảnh hệ sinh thái cho nghiên cứu và ứng dụng KH&CN còn mới manh nha, còn 95% doanh nghiệp vừa và nhỏ rất hạn chế năng lực hấp thụ công nghệ.
Trong bối cảnh đó, việc để các chủ thể tham gia định giá phải đưa ra những kết luận tuyệt đối chính xác, trong bối cảnh thiếu cơ sở dữ liệu, cho một tài sản chứa đầy bất định tương lai là điều gần như bất khả thi.
Vượt qua "cái tôi" nghiên cứu để nhìn thấy giá trị thực của thị trường
Một rào cản tâm lý không nhỏ khác trong quá trình thương mại hóa tài sản trí tuệ hiện nay xuất phát từ chính chủ thể tạo ra tri thức. Không ít nhà khoa học vẫn mang tâm thế trân trọng "đứa con tinh thần" của mình như một thành quả mang tầm vóc lớn lao, độc bản, từ đó kỳ vọng vào một kết quả xác định giá trị phi thực tế và từ chối mọi con số thẩm định giá trị không tương xứng với kỳ vọng cá nhân.
Thế nhưng, trong dòng chảy thương mại toàn cầu, giá trị của một công nghệ không được định đoạt bởi sự kỳ công của người tạo ra nó trong phòng thí nghiệm, mà bởi năng lực giải quyết vấn đề của nó đối với xã hội và khả năng cạnh tranh so với các giải pháp tương tự trên thế giới. Khi đặt kết quả nghiên cứu trong tổng thể trình độ công nghệ toàn cầu, nhà khoa học cần phải sòng phẳng đối diện với thực tế: một công nghệ dù xuất sắc đến đâu nhưng nếu đi sau thị trường, hoặc có chi phí vận hành cao hơn các giải pháp thay thế đang phổ biến, thì giá trị kinh tế của nó tất yếu sẽ bị điều chỉnh theo chiều hướng giảm.
Việc chấp nhận kết quả định giá khách quan từ thị trường không phải là sự phủ nhận giá trị của công trình nghiên cứu, mà là bước chuyển mình tất yếu để đưa tri thức từ trong phòng thí nghiệm bước vào cuộc sống. Nhà khoa học cần thay đổi tư duy và theo đuổi chân lý: "công nghệ chỉ thực sự trở thành tài sản và đem lại lợi nhuận khi nó được thị trường chấp nhận và sẵn sàng chi trả, thay vì tồn tại như một danh hiệu mang tính niềm tin cá nhân."
Để thị trường tự lên tiếng
Báo chí cũng đã chia sẻ không ít các tài sản trí tuệ của người Việt Nam được thương mại hóa và đem lại giá trị cao, tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động và đem lại doanh thu hàng trăm tỷ đồng mỗi năm. Các nhà khoa học và doanh nghiệp đã tự thỏa thuận giá trị dựa trên phương pháp chia sẻ lợi ích, vượt qua sự e ngại trách nhiệm thông thường.
Tuy nhiên, cần nghiêm túc nhìn nhận rằng những trường hợp thành công này hiện tại vẫn mang tính ngoại lệ nhiều hơn là quy luật. Các thương vụ từ viện, trường đa số đang dựa vào sự dũng cảm xé rào, chấp nhận rủi ro của những cá nhân tâm huyết. Một quốc gia không thể xây dựng chiến lược đổi mới sáng tạo chỉ dựa vào lòng can đảm cá nhân.
Để thiết lập một thực tế nơi thị trường tự do điều chỉnh trên quy mô lớn, biến những ngoại lệ thành quy luật nhằm đánh thức khối tài sản khổng lồ từ ngân sách nhà nước, việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ chế miễn trừ rủi ro là mảnh ghép bắt buộc.
Bình An