Các dân tộc phương Đông chỉ bắt đầu quan tâm tới khoa học kỹ thuật phương Tây khi tiếng súng từ các
![]() |
![]() |
Như vậy vấn đề sẽ quy về giá trị văn hóa: liệu chúng ta có muốn sống trong một xã hội có tiện nghi vật chất nhưng không có các nhà nghiên cứu toán học, vật lý... hay không? Tôi muốn lưu ý là chủ nghĩa thực dụng không phải chỉ ở phương Tây mới có như nhiều người lầm tưởng: thời xưa ở Trung Hoa, phái Mặc học đã từng cho rằng chỉ có những gì liên quan đến nhu cầu ăn và mặc của con người mới là quan trọng và coi thường tất cả những hoạt động văn hóa. Đã có tranh luận về dụng và văn. Về thái độ thực dụng thời hiện đại, tôi muốn trích dẫn nhận xét phê phán của một học giả Trung Quốc đương đại: "Lợi ích kinh tế dùng con số để diễn đạt quả thật rất có sức thuyết phục, nhưng con số đã che lấp các giá trị phán đoán. Rất nhiều tổn thất đều là vô hình, chúng ta không dễ nhìn thấy... Hiện đại hóa mà người Trung Quốc hiểu có thể đi theo những con đường khác nhau, nhưng mục đích chỉ có một: làm sao giành được lợi ích kinh tế một cách nhanh nhất". Học giả này kêu gọi bảo vệ hình thái giá trị lý tưởng – cái đại dụng của cái tưởng như vô dụng.
![]() |
Tuy nhiên tôi hoàn toàn không có ý cho rằng KHTN chỉ có ý nghĩa như một giá trị văn hóa mà xã hội có thể lựa chọn thoải mái, tựa như lựa chọn xem có nên phát triển môn bóng chày ở nước ta hay không. Việc xây dựng các ngành KHTN, trước hết là thể hiện sự tôn vinh một lĩnh vực hoạt động trí tuệ hữu dụng nằm trong mục tiêu phát triển toàn diện con người, sau nữa, đó là sự đầu tư chắc chắn cho tương lai của dân tộc. Thế kỷ 20 có thể cho phép nhiều nước giàu tài nguyên (như dầu hỏa) tạo nên mức sống vật chất cao cho xã hội, mà không nhất thiết phải có sự phát triển trí tuệ cao. Thế kỷ 21 chắc sẽ không có nhiều cơ hội như thế. Tôi tin rằng ở thế kỷ 21 chỉ có các cộng đồng có phát triển trí tuệ cao mới có tương lai. Việc xây dựng các ngành KHTN như là một nghề nghiệp của hoạt động trí tuệ hữu dụng chính là nhằm vào phát triển tố chất trí tuệ của cộng đồng. Ta có thể lấy nước Đan Mạch ở Bắc Âu làm thí dụ. Vào những năm 30, 40 của thế kỷ 20, đất nước nhỏ bé này đã có một nhà vật lý xuất chúng là N.Bohr. Đan Mạch thời đó đã trở thành nơi quy tụ các nhà vật lý tài năng khắp thế giới góp phần quyết định trong việc xây dựng nền móng của cơ học lượng tử. Viện nghiên cứu vật lý của N.Bohr ngày nay là di sản văn hóa mà người Đan Mạch rất tự hào. Không có bằng chứng nào về đóng góp trực tiếp của N.Bohr vào sự phồn vinh kinh tế của Đan Mạch ngày nay, nhưng liệu có thể phủ nhận những đóng góp vô hình của ông chăng? Tôi nghĩ đó chính là cái đại dụng của cái tưởng như vô dụng.
![]() |
Những tiến bộ kỹ thuật mà KHTN và các ngành khoa học khác đem lại cho xã hội loài người lại tác động trở lại đối với các ngành khoa học cơ bản, khiến cho công việc nghiên cứu khoa học trở thành một nghề nghiệp chuyên môn mang tính xã hội rất cao: khoa học ngày nay không còn là công việc của một vài nhà khoa học xuất chúng nhằm thỏa mãn trí tò mò cá nhân. Khoa học đã trở thành một bộ phận hữu cơ của nền sản xuất hậu công nghiệp, được tổ chức, đầu tư và quản lý với quy mô lớn mang nhiều thuộc tính toàn cầu hóa. Định hướng ứng dụng được nhấn mạnh và tính chất lãng mạn của công việc nghiên cứu cơ bản cũng mất dần theo. Trong bối cảnh như thế thì việc thiết kế xây dựng các ngành KHTN ở nước ta như thế nào để nhanh chóng bắt kịp trình độ các nước tiên tiến là một vấn đề rất khó khăn. Theo tôi hiểu thì chúng ta đang ở giai đoạn xuất phát của một quá trình lâu dài mà hình như còn chưa có hoạch định nào cả.



